Chương 19: Mồi chua
Trời sáng, người trên đồi Sim nhìn xuống thấy trấn Khe Nứa trắng xóa.
Không phải trắng hơi nước. Trắng sương muối. Mái ngói, ngọn cây gạo, bãi chợ, bờ suối, cả lòng đường nứt toác trước cửa nhà bà Ba Sắn, đều phủ một lớp sương mịn như rây bột. Suối Nứa chảy trong vắt dưới lớp sương, không bốc một sợi hơi. Lũ chào mào ở đâu không biết bay về đậu kín cây sấu đầu ngõ, kêu inh ỏi.
Người ta kéo nhau xuống đồi. Không ai vội. Người già đi trước, dò từng bước trên đường sương trơn. Trẻ con chạy sau, giẫm lên cỏ đọng sương nghe lạo xạo, cười khanh khách vì cái chân lạnh. Bà Ba Sắn về tới nhà, thấy bức tường bếp đổ sập một nửa, nồi bánh đúc còn nguyên. Bà đứng chống nạnh nhìn bức tường rất lâu, rồi quay sang hỏi Đọng sáng nay có đậu không.
Đọng không trả lời được. Anh chưa ngủ. Anh vẫn ngồi trên bậc thềm giếng, chỗ bà Mận ngồi đêm qua, cái hũ rỗng đặt bên cạnh.
Gần giờ Thìn, có người từ Khe Đá chạy về. Thằng phu trẻ, ngày trước mắt đỏ. Nó thở hồng hộc, bảo hầm sập một nửa từ gần sáng, phu của cai Quẩn chạy ra được hết, còn người của tông thì kẹt bên trong mấy người, cai Quẩn đang cho đào. Tông chủ vừa từ trên núi bay xuống.
Đọng đứng dậy. Bà Mận cũng đứng dậy, cầm gậy. Thằng Chũn đòi đi, anh bảo nó ở nhà trông bà Tảo.
Ở Khe Đá, cửa hầm đã bị đất đá vùi gần kín, chỉ còn một lỗ hổng bằng cái nong. Bốn chục phu cởi trần đứng thành hàng, chuyền đất ra từng sọt. Cai Quẩn cầm xẻng đứng đầu hàng, mặt đen nhẻm. Thấy Đọng, anh ta chỉ gật đầu một cái, rồi lại cúi xuống xúc.
Kiều Tĩnh Phong đứng ở cửa hầm. Áo lam nhạt rách một bên vai. Tóc búi xổ ra một nửa, cái trâm gỗ không còn. Hai bàn tay ông đỏ ửng, phồng rộp ở lòng bàn tay, như người vừa cầm chuôi một cái chày nung đỏ.
Ông nhìn Đọng, rồi nhìn xuống tay mình.
– Cái vồ đánh chuông, – ông nói. – Ta đánh suốt một canh giờ. Chuông nối với trận. Đánh theo nhịp thì trận đảo theo nhịp.
– Rạng đâu ạ?
– Ở trên núi. Con bé đứng ở cột cuối từ canh hai tới sáng, hai tay ôm viên ngọc giữ cho nó không quay lại. Trận dội vào người nó suốt đêm. – Kiều Tĩnh Phong nói. – Bây giờ nó đang ngủ ở bếp, sư phụ bếp đắp chăn cho nó. Không sao.
Đọng thở ra. Một hơi dài, như người đặt gánh xuống.
Gần trưa, phu đào thông được lối vào. Năm đệ tử áo trắng bò ra trước, mặt mũi lấm đất, ho sặc sụa, người nào cũng chảy máu mũi. Phạm trưởng lão ra sau cùng, cái tay trái gãy, buông thõng. Ông ta không nhìn ai. Rồi ông ta quay lại, cùng hai đệ tử chui vào hầm lần nữa, khiêng ra một người.
Đọng mất một lúc mới nhận ra Bạch Cảnh Thông.
Cái da mặt hồng hào như người năm mươi không còn nữa. Da ông xám như tro, nhăn nheo, sát vào xương, như da quả táo phơi khô. Mắt sâu hoắm. Mái tóc bạc như cước rụng lả tả, chỉ còn lưa thưa. Ông ngồi, không nằm. Lưng vẫn thẳng, hai tay đặt trên gối, như mọi người tu ngồi định. Nhưng hơi thở của ông ngắn, gấp, và có một mùi chua bay ra theo mỗi hơi thở. Không phải mùi chua dịu của nước cái. Chua gắt, ôi, như nồi đậu bị bỏ quên ba ngày giữa trưa hè.
Trong lòng bàn tay phải ông nắm chặt một mảnh đá trắng to bằng cái chén. Một nửa mảnh đá đã ngả sang màu vàng đục, như sữa đậu bị hỏng.
Kiều Tĩnh Phong đi tới, quỳ một chân xuống trước mặt ông, như ông đã quỳ trước bà Tảo ở chỗ này một tháng rưỡi trước.
– Sư phụ.
Bạch Cảnh Thông mở mắt. Ông nhìn Kiều Tĩnh Phong một lúc, rồi nhìn qua vai ông ấy, nhìn thấy Đọng. Ông nhìn Đọng lâu hơn.
– Lúc chuông canh tư đánh, – ông nói, giọng khàn như tiếng gió qua khe đá, – ta biết con đảo trận. Ta biết ta tính sai một chỗ. Ta không tính rằng con dám.
Kiều Tĩnh Phong không nói gì.
– Ta đã đào tới lõi. Lõi nứt từ hai mươi tháng Mười. Lúc trận đảo, mạch dưới chân ta xoay lên, ta biết nếu không lấy ngay thì sẽ không bao giờ lấy được nữa. Ta cạy một mảnh ra. Ta nuốt. – Ông thở ra, mùi chua lại bay lên. – Mồi vô chủ. Ta tin là mồi vô chủ. Bốn mươi năm dưới đất, không còn người, không còn tiếng, không còn nhớ ai. Ai cho, ai không cho.
Ông mở bàn tay, nhìn mảnh đá trắng nửa đã ngả vàng.
– Nó có chủ. – Ông nói. – Lúc ta nuốt vào, nó không đông trong ta. Nó vón. Cả đời khí của ta vón lại như óc đậu điểm hỏng. Ta nghe thấy nó. Nó không gào, không giận. Nó chỉ quay đi. Như người mẹ quay đi khi đứa con nhà hàng xóm xin bế đứa nhỏ của mình. – Ông nhìn Đọng. – Nó đang chờ người khác.
Đọng đứng im. Anh nghĩ tới cái ấm đi lên theo sợi nước cái đêm qua. Anh nghĩ tới việc mình đã để nó đi qua.
Bà Mận đứng sau lưng anh, gõ gậy một tiếng xuống đất.
– Ông Bạch. Ông còn ở cảnh nào?
– Trúc Cơ. – Bạch Cảnh Thông mỉm cười. Cái cười của ông vẫn ấm như hôm rót trà, chỉ có khuôn mặt là không còn. – Trúc Cơ thọ hai trăm. Ta hai trăm ba mươi mốt. Bà trận sư, bà tính giỏi, bà tính hộ ta còn được bao nhiêu ngày.
Bà Mận không tính. Bà đứng im.
Kiều Tĩnh Phong cúi xuống, gỡ mảnh đá ra khỏi tay sư phụ mình. Bạch Cảnh Thông để yên. Kiều Tĩnh Phong cầm mảnh đá một lúc, rồi đưa nó cho Đọng.
– Của nhà cậu.
Đọng đỡ lấy. Nửa trắng của mảnh đá ấm. Nửa vàng lạnh ngắt.
Chiều hôm ấy, Kiều Tĩnh Phong xuống phố Đầu Cầu.
Ông đi bộ từ Khe Đá về, qua rừng lau, qua bãi tha ma, qua cầu đá. Người trấn đang dọn dẹp thấy ông thì đứng sững, rồi cúi đầu. Ông không dừng. Ông đi thẳng tới cổng nhà họ Đàm, qua hiên, qua bếp, ra sân sau. Hai nửa tảng đá xanh vẫn nằm trên nền sân. Cái giếng mở. Bà Tảo ngồi trên bậc thềm, ôm cái hũ rỗng, hát lẩm nhẩm.
Ông đứng trước cái giếng. Người trấn lần lượt kéo vào, đứng chật sân, chật hiên, chật cả ngoài ngõ. Thầy Bổng, ông trưởng phố, bà Ba Sắn, bà bán trầu, ông thợ rèn vừa từ đèo xuống, thằng Chũn tay quấn vải.
Kiều Tĩnh Phong quay lại, nói với tất cả mọi người.
Ông kể chuyện nhà họ Đinh. Chuyện cái giếng, chuyện nồi đậu mỗi sáng, chuyện bài hát. Chuyện cái tảng đá bốn mươi mốt năm trước, chuyện đêm hai mươi ba tháng Chạp, chuyện một người đệ tử đứng ở sân Tụ Linh, tay đặt trên tảng đá chủ trận, không chọn. Ông kể chuyện cái hầm. Chuyện đêm qua. Ông không bỏ chỗ nào, không nói nhẹ đi chỗ nào. Ông kể bằng cái giọng đều đều của người đọc sổ.
Kể xong, ông quay về phía cái giếng, quỳ cả hai gối xuống nền gạch, cúi đầu.
Bốn mươi mốt năm muộn.
Không ai nói gì. Bà Tảo ngừng hát. Bà nhìn người đàn ông áo lam đang quỳ, rồi bảo:
– Cậu Phong. Đứng lên. Quỳ lâu lạnh đầu gối.
Mấy người đàn bà đứng ở hiên quay mặt đi.
Trước khi về núi, Kiều Tĩnh Phong nói thêm mấy việc, giọng trở lại như người làm việc. Trường Long Trận giữ lại, nhưng tông sẽ khắc lại cột cuối, chỉ cho phép đảo, không cho hút. Lễ Tết gửi xuống nhà họ Đinh, đã bỏ từ đời tông chủ Cung Hạc Niên, từ năm nay gửi lại. Nhà nào trong trấn bị đổ tường, nứt nền, tông đền. Phạm trưởng lão và những người đứng ra đào hầm sẽ ra Chấp Pháp Đường. Hết Tết, ông sẽ từ chức tông chủ, để hội đồng chọn người khác.
– Còn con bé Rạng? – Đọng hỏi.
– Lệnh phạt xóa. Con bé muốn về bếp thì về, muốn ở dưới này thì ở. – Kiều Tĩnh Phong nói. – Ta hỏi rồi. Nó bảo nó về bếp, nhưng sáng nào nó cũng xin xuống lấy đậu.
Ông đi rồi, bà Mận gọi Đọng lại. Bà đặt hai ngón tay lên cổ tay anh, như thầy Bổng bắt mạch, giữ rất lâu.
– Tầng năm, – bà nói.
– Dạ.
– Anh rơi một tầng. Đêm qua anh dẫn mạch bằng khí của chính anh, cái vẩy anh có cũng cho đi rồi. – Bà buông tay anh. – Anh tiếc không?
Đọng nghĩ một lúc.
– Rùa thì rùa, – anh nói. – Rùa sống lâu.
Bà Mận bật cười.
Tối ấy, cả nhà ngồi quanh bếp, nhìn cái hũ rỗng đặt giữa nền.
Không ai nói ra, nhưng ai cũng nghĩ cùng một chuyện. Hũ rỗng. Nước cái nhà họ Đinh, ba trăm năm chưa thay, đã rót hết xuống giếng. Sáng mai lấy gì điểm đậu?
– Nước cái nhà khác có được không bà? – Thằng Chũn hỏi.
– Được. Đậu vẫn đông. Chỉ không có vân, không giữ mạch. – Bà Mận nói. – Mạch đông rồi, đông chắc, chắc tới mấy chục năm không cần ai. Nhưng mấy chục năm sau thì...
Bà không nói hết.
Đêm ấy, ba giờ sáng, bà Tảo dậy.
Bà ra sân sau, chân trần, cầm cái gáo dừa. Đọng đi theo. Bà đứng trước cái giếng mở, nhìn xuống, rồi gật đầu, như người vừa thấy nhà mình còn nguyên sau trận bão. Đọng thả gàu, kéo lên. Nước giếng mát. Mát như nước mưa. Anh rót vào gáo cho bà.
Bà Tảo đi tới bệ gạch, mở nắp cái hũ rỗng, nghiêng gáo. Nước giếng chảy vào hũ thành một sợi chỉ.
– Ăn đi, ăn đi. Ngoan.
Bà đậy nắp, buộc dây, thắt nút con bướm, kéo thử hai lần, rồi đi vào ngủ.
Bốn giờ, Đọng mở nắp hũ. Anh không hy vọng gì. Anh chỉ muốn nhìn.
Mùi chua dịu bốc lên. Thơm như mùi cơm mẻ để trong bếp ấm.
Anh đứng sững. Rồi anh lấy đèn soi vào trong hũ. Đáy hũ chỉ có một lớp nước mỏng, bà Tảo vừa rót lúc ba giờ. Nhưng thành hũ bên trong, lớp men sành da lươn ba trăm năm, sẫm màu như gỗ trầm, ngấm đẫm thứ nước cái ấy từ đời này sang đời khác. Nước giếng chạm vào thành hũ, chỉ trong nửa canh giờ, đã chua.
Bà Mận đứng sau lưng anh, ngửi.
– Cái hũ, – bà nói khẽ. – Cái hũ mới là nước cái.
Sáng hai mươi tư tháng Mười Một, Đọng điểm đậu bằng một gáo nước chua mỏng như nước lã. Rạng đứng gõ đũa, nó xuống từ lúc ba giờ, hai bàn tay quấn vải. Thằng Chũn quay cối bằng tay trái. Bà Tảo hát.
Đậu đông đúng giờ. Không sớm, không muộn.
Ra khuôn, Đọng nâng bìa đậu đầu tiên lên dưới ánh đèn. Bảy nhánh lớn. Cái rốn tròn, đậm, ở chỗ của nó. Vết chéo không còn, chỉ còn một vệt rất mờ như vết sẹo cũ.
Và bên cạnh cái rốn, sát bên, có một chấm nhỏ mới. Bằng hạt đậu. Bốn mươi mốt năm nhìn vân, Đọng chưa thấy chấm ấy bao giờ.
Bà Mận sờ lên. Ngón tay bà dừng ở chấm nhỏ ấy, rất lâu.
– Của anh đấy, – bà nói.
— Hết chương 19 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe