Chương 3: Bát tào phớ của ông Ngạn
Con Mít tỉnh dậy lúc gà gáy, đòi ăn bánh đúc, không nhớ gì chuyện đêm qua. Bà Ba Sắn mang sang biếu Đọng một đĩa bánh đúc nóng, rồi đứng ở cổng nói vọng vào, giọng ngượng ngùng, rằng từ nay bà xin gánh nước suối về dùng, không lấy nước giếng nhà anh nữa.
Đọng gật đầu. Anh cũng không biết nói gì khác.
Bốn hôm liền, anh làm đậu như đi trên băng. Nước giếng múc lên phải đun sôi rồi để nguội mới dám ngâm đậu. Nồi nào cũng vậy, chưa kịp cho nước cái, mép nồi đã tự đông, nhưng đông lỗ chỗ, chỗ có chỗ không. Anh phải canh từng nhịp, thấy vẩy nổi lên là điểm ngay, điểm thật nhanh mà thật nhẹ cho kịp. Đậu vẫn ra khuôn được, vẫn có vân, vẫn có vết chéo. Vết chéo đậm hơn mỗi sáng một chút.
Sáng mùng chín, có một ông già lên dốc phố Đầu Cầu bằng cái gậy trúc, đi ba bước nghỉ một bước, tới cổng tiệm thì ngồi phịch xuống ghế tre, thở ra một hơi dài như cái bễ thủng.
Ông già lắm. Tóc trắng, râu trắng, da mặt mỏng như giấy bản, thấy được cả gân xanh ở thái dương. Áo vải nâu vá vai, lưng đeo một cái tay nải nhỏ. Nhưng cái cách ông ngồi thì Đọng biết ngay là người tu: lưng thẳng, hai tay đặt trên gối, thở ra chín nhịp.
– Ông dùng gì ạ?
– Nhà anh có tào phớ không?
– Dạ có. Nước đường hay nước gừng ạ?
Ông già nhìn anh, mắt đục như mắt cá luộc, mà sáng lên một chút.
– Tôi xin anh một bát, mà anh làm cho tôi khác đi một tí được không. Gừng thì nướng than cho cháy vỏ rồi mới đập, chứ đừng gọt. Đường thì đường phên, đun cho sậm màu như mật. Bỏ vào nồi nước đường một nhúm vỏ quýt khô. Mẹ tôi ngày xưa nấu thế. Tôi đi khắp nơi tìm mà không nhà nào nấu đúng.
Đọng không có vỏ quýt khô. Anh chạy sang hàng tạp hóa đầu phố mua một nắm, chạy về nướng gừng, nấu nước đường. Bếp củi hồng, gừng nướng cháy vỏ, đập dập, mùi cay xộc lên mũi. Đường phên tan ra, sủi bọt nâu. Anh bỏ vỏ quýt vào, mùi thơm hăng hắc tỏa khắp hiên. Ông già nhắm mắt ngửi, không nói gì.
Anh múc tào phớ vào bát sành, hớt từng lớp mỏng bằng cái muỗng hến, xếp lên nhau như cánh hoa, rồi chan nước đường lên. Ông già đỡ bát bằng hai tay, run run, húp một ngụm.
Một lúc lâu, ông mới đặt bát xuống.
– Thiếu mỗi một thứ. Mẹ tôi rắc thêm một ít muối. Một tí xíu thôi, cho nó đậm.
Đọng rắc một hạt muối hột. Ông già húp ngụm nữa, rồi gật đầu, gật mãi, như con gà mổ thóc.
– Phải rồi. Phải rồi.
Ông tên Hà Văn Ngạn, chín mươi tư tuổi, tán tu, Luyện Khí tầng chín. Tầng chín là bậc cuối trước Trúc Cơ. Người tầng chín sống được tới trăm tuổi là cùng, muốn sống thêm thì phải Trúc Cơ, mà muốn Trúc Cơ thì phải có mồi của người Trúc Cơ.
– Tôi đứng tầng chín ba mươi năm rồi, – ông Ngạn nói, giọng bình thản như kể chuyện người khác. – Đi khắp các tông xin mồi. Có tông đòi năm trăm lượng. Có tông bảo tôi già rồi, mồi cho tôi phí. Có một ông Trúc Cơ bằng lòng cho, rồi ông ấy chết trước khi kịp vắt. – Ông cười, để lộ hàm răng còn được dăm cái. – Thôi. Giờ tôi chỉ muốn ăn bát tào phớ cho đúng.
Đọng ngồi xuống ghế đối diện. Không có khách nào khác. Bà Tảo ngồi trong bếp, bóc vỏ lạc rang, môi mấp máy hát.
– Tôi đi qua trấn này lần đầu năm ba mươi tuổi, – ông Ngạn nói tiếp. – Tiệm này ngày ấy cũng bán đậu. Bà chủ còn trẻ, tóc dài tới thắt lưng, có đứa con gái nhỏ chạy lon ton. Bà ấy điểm đậu vừa điểm vừa hát. Hát cái bài gì nhỉ. Ba vòng thuận, một vòng nghỉ...
Trong bếp, tiếng hát của bà Tảo im bặt.
Đọng nhìn ông già. Sáu mươi tư năm trước, bà Tảo mới mười bốn tuổi, còn ở làng bên kia núi, chưa về trấn này.
– Ông có nhớ bà chủ ấy tên gì không?
– Không. Tôi chỉ ở có một đêm. Nhớ mỗi bát tào phớ, với bài hát, với cái giếng. Nước giếng nhà này mát lắm. Uống một gáo, cả người tỉnh như gội đầu bằng nước mưa. – Ông Ngạn nghiêng đầu về phía cái giếng sau sân. – Hôm nay thì không mát. Tôi ngửi thấy từ đầu phố. Nóng quá. Khí nó bốc lên như hơi nồi.
Ông lấy trong tay nải ra một cái lọ sứ trắng, nhỏ bằng đốt ngón tay cái, nút sáp ong, buộc chỉ đỏ. Ông đặt nó lên bàn, giữa hai người.
– Năm tôi mười tám tuổi, thầy tôi cho tôi hai giọt mồi tầng bốn. Một giọt để tôi lên tầng. Một giọt thầy bảo để dành. Thầy bảo mồi là thứ để chuyền tay, nhận một thì phải cho đi một, chứ ai cũng giữ khư khư thì đời sau lấy đâu ra mà đông. – Ông đẩy cái lọ về phía Đọng. – Bảy mươi sáu năm, tôi chưa tìm được người đáng cho. Anh tầng sáu, cái này với anh vô dụng. Nhưng anh biết ai cần không?
Đọng nghĩ ngay tới con bé búi tóc bằng cái thìa gỗ.
– Có một đứa. Nhưng tông nó cấm nhận mồi người ngoài.
– Thì đấy là việc của nó. – Ông Ngạn xua tay. – Mình cho thì mình cứ cho. Nó nhận hay không là chuyện nó chọn. Mồi để trong lọ niêm sáp, trăm năm không hỏng. Mồi chỉ hỏng khi bị giật. Ai cướp mồi của người khác mà nuốt vào, khí trong người nó vón lại, chua như đậu thiu. Mồi phải cho mới đông.
Ông nói xong, xin thêm bát nữa. Đọng múc bát thứ hai, nhiều nước đường hơn, thêm hai hạt muối.
Ông Ngạn ăn chậm. Ăn xong, ông ngồi im, nhìn ra cái giếng. Mặt trời lên cao, nắng chiếu qua giàn trầu, đổ thành những đốm sáng lăn tăn trên sân gạch.
– Tôi còn nhớ một chuyện nữa, – ông nói, giọng nhỏ hẳn. – Mùa đông năm tôi năm mươi ba tuổi, tôi đi ngang qua đây lần thứ hai. Chiều hôm tôi tới, tôi ra sau nhà này xin gáo nước, thì thấy cái giếng bị bịt. Một tảng đá xanh tròn đè lên miệng, trên mặt khắc trận văn đỏ như máu. Đêm ấy cả trấn này mê ngủ, người lớn trẻ con mở cửa đi lên núi. Tôi cũng suýt đi theo.
Đọng ngồi thẳng dậy.
– Ai bịt hả ông?
– Người trên núi. Mấy người áo xám đứng canh. – Ông Ngạn thở ra, chậm. – Tôi sợ, trời chưa sáng đã đi luôn. Không biết sau thế nào.
– Thế làm sao mà giếng lại mở ra?
Ông Ngạn không trả lời. Đọng hỏi lại lần nữa. Ông già vẫn ngồi thẳng lưng, hai tay đặt trên gối, mắt nhìn ra giếng. Cái bát sành trên bàn đã nguội. Một con ong ruồi đậu lên miệng bát, liếm giọt nước đường.
Đọng đứng dậy, đặt tay lên vai ông. Vai ông lạnh.
Thầy Bổng tới, bắt mạch, rồi kéo vạt áo che mặt ông già. Thầy bảo thọ tận, người tu đến lúc đi thì đi êm như vậy, không đau đớn gì. Thầy bảo ông già có phúc, chết lúc vừa ăn xong bát ngon.
Chiều, Đọng với Chũn và ông thợ rèn đầu phố khiêng ông Ngạn ra bãi tha ma bên đồi Sim. Người trấn Khe Nứa không ai biết ông, nhưng đi đưa cũng được mười mấy người, vì bà Ba Sắn rủ. Bà mang theo nắm hương với mấy cái bánh đúc. Rạng cũng xuống, mặc áo xám, đứng ở cuối hàng. Nó chỉ gặp ông già có đúng một lần, buổi sáng, lúc xuống mua đậu, ông bảo nó gánh khéo, vai không lệch.
Trong tay nải ông Ngạn có một bộ quần áo, một quyển kinh cũ rách bìa, một đồng bạc, và một mảnh giấy gấp làm tư, chữ run run: "Người làm bát tào phớ cho tôi thì giữ lọ mồi. Cho người cần."
Đắp mộ xong, Đọng đi chậm lại, đợi Rạng. Anh mở bàn tay ra, cái lọ sứ nằm giữa lòng bàn tay, nút sáp ong vàng óng dưới nắng chiều.
– Mồi tầng bốn. Của ông ấy cho. Ông ấy bảo cho người cần.
Rạng dừng lại. Nó nhìn cái lọ rất lâu, như nhìn một con rắn đẹp. Hai tay nó nắm chặt vạt áo.
– Chú ơi, cháu không dám đâu.
– Chú không bắt cháu nhận. Chú chỉ bảo cháu là có.
– Ai nhận mồi tạp bị phạt xuống núi. Cháu xuống núi thì về đâu? Nhà cháu có năm đứa em, mẹ cháu gả cháu lên tông là để bớt một miệng ăn. – Nó lắc đầu, lắc mạnh, cái thìa gỗ trên búi tóc lung lay. – Chú cất đi. Cất kỹ vào. Đừng cho cháu xem nữa.
Nó quay đi, đi nhanh về phía bậc đá. Đi được một quãng, nó dừng lại, không quay đầu.
– Chú cất giùm cháu nhé. Đừng cho ai.
Đọng cất cái lọ vào cái hộp gỗ nhỏ trên bàn thờ ông Cối, cạnh cái bát hương.
Tối ấy, lúc rửa nồi, anh hỏi bà Tảo về bài hát.
– Bu ơi, bài ba vòng thuận ấy, bu học của ai?
Bà Tảo đang ngồi bóc lạc, đôi tay nhăn nheo dừng lại. Bà nhìn anh, mắt trong vắt, trong như cái giếng ngày xưa.
– Bu học của cô Lắng. Cô Lắng học của mẹ cô ấy. – Bà nói rõ ràng từng chữ, như người tỉnh táo nhất trên đời. – Cô ấy bảo bu, chị hát thì nhớ cho đúng nhịp. Sai một vòng là hỏng cả nồi.
Rồi bà cúi xuống bóc lạc tiếp, và hỏi anh có phải người mua lạc không.
Nửa đêm, Đọng ra giếng. Anh không múc nước, chỉ đứng nhìn. Anh nghĩ tới tảng đá xanh tròn khắc trận văn đỏ mà ông Ngạn kể. Anh lấy đèn soi quanh thành giếng, soi từng viên đá ong, từng kẽ vữa.
Ở mép trong của thành giếng, sát miệng, có một vệt mòn lõm xuống, cong cong, như từng có cái gì nặng và tròn đè lên đấy, nặng tới mức đá ong phải lún xuống. Bốn mươi năm nay anh múc nước ở đây mỗi ngày, mà chưa từng để ý.
— Hết chương 3 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe