Chương 4: Rằm tháng Tám ở Đài Thử Đá
Thằng Chũn tắm ba lần trong một buổi sáng.
Lần thứ nhất ở suối, lúc trời chưa sáng, nước lạnh tới mức nó về run cầm cập. Lần thứ hai ở giếng nhà Đọng, nó bảo nước giếng ấm, tắm cho ấm người. Đọng không cho, bắt nó đun nước suối. Lần thứ ba là lúc nó mặc thử cái áo bà Ba Sắn cho mượn, áo của thằng cháu nội bà, rộng thùng thình, nó lại thấy mình hôi, lại đòi tắm.
– Đá nó không ngửi đâu mà, – Đọng nói.
– Chú biết đâu đấy. Lỡ nó ngửi thì sao.
Đọng làm xong mẻ đậu sáng, giao cho Rạng hai mươi bìa, nhờ bà Ba Sắn trông bà Tảo, rồi đóng cửa tiệm, dắt thằng Chũn lên núi. Mười lăm tháng Tám, rằm Trung thu, ngày Ngưng Hà Tông mở Đài Thử Đá. Ba năm nay năm nào thằng bé cũng đứng ở bậc thứ một nghìn, nhìn lên rồi lại gánh xuống. Năm nay nó dành dụm đủ một đồng.
Một nghìn tám trăm bậc đá, trẻ con các trấn quanh núi kéo nhau lên đông như đi hội. Có đứa được cha cõng. Có đứa mặc áo lụa, có người hầu che ô. Có đứa đi chân đất, ôm khư khư một gói cơm nắm. Người lớn đi theo bàn tán xem năm nay đá sáng mấy đứa, năm ngoái sáng mười một, năm kia sáng chín. Thằng Chũn không nói câu nào, cứ bước đều, như đang gánh.
Tới bậc thứ một nghìn, Chũn dừng lại, nhìn lên. Đây là chỗ xa nhất nó từng gánh tới, chỗ có cái lán của bếp tông, phu gánh đặt thúng xuống, người bếp ra nhận, phu quay về. Nó chưa từng bước qua bậc thứ một nghìn lẻ một. Đọng thấy nó nhấc chân lên, rồi đặt xuống, như người đứng trước ngưỡng cửa nhà người lạ.
– Đi đi. Hôm nay mình là khách.
Thằng Chũn bước qua. Bước xong nó quay lại nhìn cái bậc vừa đi, rồi cười, cái răng sứt lộ ra.
– Cũng là đá thôi chú nhỉ.
Lên tới đỉnh, trời mở ra.
Ngưng Hà Tông nằm trên một mặt bằng rộng như ba cánh đồng, lát đá xanh, quanh là mây. Điện chính mái ngói lưu ly màu nước biển. Bên trái là dãy nhà bếp, khói bay lên từ ba ống khói to bằng thân cây. Bên phải là sân Tụ Linh, nơi đặt trận Tụ Linh hút khí núi lên cho cả tông dùng. Đọng nhớ hồi mười hai tuổi, sân ấy có chín cột đá xanh, đứng thành vòng tròn, cao gấp ba người, trên mỗi cột khắc một con sông cuộn.
Bây giờ thì không phải chín.
Ngoài vòng tròn chín cột cũ, người ta đang dựng thêm cột mới. Đọng đếm được bảy cột đã đứng, hai cột còn nằm trên con lăn gỗ, mấy chục phu cởi trần đang kéo dây thừng. Cột mới không đứng thành vòng, mà đứng thành một hàng thẳng, từ mép vòng cũ chạy ra tới tận mép vực phía nam.
Đọng đi tới chỗ lan can đá, nhìn theo hướng hàng cột. Dưới kia, sâu tít, là trấn Khe Nứa nhỏ như cái nong, mái nhà lô nhô, sợi suối bạc vắt qua. Hàng cột chĩa thẳng xuống một chỗ ở sau lưng trấn, chỗ có cái khe đá đen mà người trấn gọi là Khe Đá.
Đường thẳng từ trên này xuống Khe Đá, nếu đặt lên cái nong là trấn Khe Nứa, sẽ cắt chéo qua đúng phố Đầu Cầu.
Đọng đứng im một lúc. Anh nghĩ tới vết chéo trên mặt đậu, chạy từ góc trên bên phải xuống góc dưới bên trái.
– Chú ơi! Tới lượt cháu rồi! – Thằng Chũn kéo tay áo anh.
Đài Thử Đá vẫn như ngày xưa. Khối đá trắng to bằng cái cối giã gạo, đặt trên một bệ gỗ hương, có mái che. Một trưởng lão già ngồi sau bàn, tay cầm bút ghi tên. Hai đệ tử đứng hai bên thu tiền. Trẻ con xếp hàng dài vòng ba lượt sân. Đứa nào đặt tay mà đá sáng thì trưởng lão ghi tên vào sổ đỏ, người nhà reo hò. Đứa nào đá không sáng thì đệ tử hô "người tiếp theo", bằng cái giọng đều đều như người bán vé đò.
Đọng đứng bên rìa đám đông xem. Đứa thứ nhất anh thấy, đá sáng màu vàng nhạt, cha nó ôm nó nhấc bổng lên. Mấy đứa sau không sáng. Một con bé mặc áo đỏ đặt tay, đá sáng lên một chút màu xanh, rồi tắt. Trưởng lão lắc đầu. Con bé khóc ré lên, mẹ nó bế đi.
Thằng Chũn đứng trước khối đá. Nó đưa đồng tiền cho đệ tử thu tiền, đồng tiền nó cầm chặt suốt đường lên, đã ấm và ướt mồ hôi. Nó chùi tay vào áo hai lần, rồi đặt bàn tay lên mặt đá.
Đá không sáng.
Đá cũng không đục. Đá cứ trắng như thế, lạnh như thế, như thằng Chũn không hề có mặt trên đời.
– Người tiếp theo.
Thằng Chũn vẫn đặt tay trên đá. Đệ tử thu tiền đẩy nhẹ vai nó. Nó rút tay về, nhìn lòng bàn tay mình, rồi quay đi, đi thẳng ra khỏi đám đông, không nhìn Đọng.
Anh tìm thấy nó sau dãy nhà bếp, ngồi trên đống củi, hai tay ôm gối. Rạng cũng ở đó, đang đứng chống nạnh trước mặt nó, tay vẫn cầm cái muôi to.
– Cháu bảo nó rồi chú ạ. Năm nay đá sáng có mười hai đứa trên hơn bốn trăm đứa. Không sáng là thường.
– Em biết rồi. – Thằng Chũn nói vào đầu gối.
Đọng ngồi xuống cạnh nó, trên đống củi. Mùi khói bếp và mùi cơm chín bay ra từ cửa sổ.
– Năm chú mười hai tuổi, chú cũng thử ở cái đá ấy. Đá không sáng mà đục ngầu. Ông trưởng lão bảo chú tu như rùa bò.
– Ít ra đá còn đục. Đá của em trắng tinh.
– Thì trắng như đậu. – Đọng nói. – Đậu ngon nhất là đậu trắng.
Thằng Chũn ngẩng lên, nhìn anh, rồi bật cười, cười mà nước mắt chảy ra.
– Chú nói vô lý.
– Ừ, vô lý. Ông Cối nhà chú hồi ấy cũng nói một câu vô lý. Ông bảo rùa thì rùa, rùa sống lâu.
– Thế người không có linh căn thì làm gì hả chú?
– Làm đậu.
– Đậu thì ai chẳng làm được.
– Thế sáng mai ba giờ dậy xay với chú. Xay được một cối mà không đổ ra ngoài thì chú trả công.
Thằng Chũn chùi mũi bằng tay áo cháu nội bà Ba Sắn, không nói có cũng không nói không.
Rạng thở phào, quay vào bếp. Được mấy bước, nó quay ra, hạ giọng:
– Chú Đọng, chú đừng kể ai nhé. Mấy hôm nay bếp phải nấu thêm cơm cho bốn chục người lạ. Không phải phu dựng cột. Bọn ấy làm đêm, ăn trưa, ngủ ngày. Sư phụ bếp bảo nấu xong thì gánh xuống Khe Đá, đặt ở cửa khe rồi đi, không được nhìn vào trong.
– Gánh xuống Khe Đá? Khe Đá ở dưới trấn mà.
– Thì vì thế cháu mới lạ. Cơm nấu trên này, gánh xuống dưới kia, đi đường gánh vòng sau núi chứ không đi qua trấn. – Rạng liếc quanh. – Lệnh của Đại trưởng lão.
Nó chưa nói hết thì sau lưng có tiếng ho khẽ.
Một người đàn ông đứng ở cửa sau nhà bếp. Áo lam nhạt, không thêu gì, tóc búi gọn cài trâm gỗ. Trông người ấy chừng bốn mươi lăm, mặt gầy, hai bên khóe miệng có nếp nhăn sâu như người hay mím môi. Rạng thấy người ấy thì mặt trắng bệch, rơi cả cái muôi, quỳ sụp xuống. Thằng Chũn chưa hiểu gì, cũng quỳ theo.
– Đứng dậy. Ta xuống bếp lấy bát nước, không phải xuống tuần.
Người ấy cầm trong tay một cái đĩa sứ, trên đĩa là một miếng đậu trắng chưa rán, chấm chút tương. Đậu của tiệm Đọng. Vân trên miếng đậu ấy, vết chéo còn nguyên.
Người ấy nhìn Đọng.
– Cậu là con bà Tảo ở phố Đầu Cầu.
Không phải câu hỏi. Đọng đứng dậy, chắp tay.
– Dạ phải.
– Đậu sáng nay vân thế nào?
Đọng sững lại. Hai mươi chín năm bán đậu, người ta hỏi đậu béo không, đậu mới không, đậu bao nhiêu một bìa. Chưa ai hỏi vân thế nào.
– Dạ, vân vẫn như thường. Có thêm một vết chéo. Mười hai hôm nay rồi, mỗi ngày đậm hơn.
– Mười hai hôm.
– Dạ. Từ sáng mùng bốn.
Người ấy nhìn xuống miếng đậu trên đĩa. Một lúc lâu. Nếp nhăn bên khóe miệng sâu thêm.
– Bà Tảo còn khỏe không?
– Dạ, bu cháu yếu, lẫn nhiều.
– Còn dậy lúc ba giờ không?
Đọng không trả lời ngay được. Không ai ngoài nhà biết bà Tảo dậy lúc ba giờ. Kể cả bà Ba Sắn ở sát vách cũng chỉ biết nhà anh làm đậu từ sớm.
– Dạ, còn.
Người ấy gật đầu, chậm, như người vừa nghe một tin mình đã đoán trước nhưng vẫn mong đoán sai. Rồi người ấy quay vào, đi qua bếp, không chào ai. Đi tới cửa, người ấy dừng lại nói một câu, không quay đầu:
– Mai cậu cho bếp thêm năm bìa. Bìa nào vân rõ thì để riêng.
Cánh cửa khép lại. Rạng vẫn quỳ, run như cầy sấy. Đọng kéo nó dậy. Nó níu tay áo anh, mắt tròn xoe.
– Chú ơi. Chú có biết ai đấy không?
– Ai?
– Tông chủ. Tông chủ Kiều Tĩnh Phong. – Nó nuốt nước bọt. – Ba năm cháu ở đây, đây là lần thứ hai cháu thấy mặt. Lần trước là ngày cháu nhập môn, đứng cách hai trăm bước.
Thằng Chũn đứng dậy, phủi đầu gối, ngơ ngác nhìn theo cánh cửa.
– Tông chủ mà ăn đậu sống chấm tương à?
Không ai trả lời nó.
Lúc xuống núi, trời đã xế chiều. Trăng rằm lên sớm, tròn như cái mẹt, treo trên rặng đồi phía đông. Thằng Chũn đi trước, lúc nãy còn ủ rũ, giờ đã nhảy hai bậc một, hỏi Đọng xay đậu thì tay nào đẩy tay nào kéo, một cối được bao nhiêu bìa. Đọng trả lời nó, nhưng đầu anh ở chỗ khác.
Một người đứng đầu tông môn sáu trăm đệ tử, biết bà mẹ nuôi già lẫn của một tay bán đậu dưới chân núi dậy lúc mấy giờ.
Tới bậc thứ một nghìn, chỗ ông Cối ngồi nghỉ năm xưa, Đọng dừng lại. Từ đây nhìn xuống thấy rõ cả trấn. Thấy phố Đầu Cầu. Thấy mái tiệm nhà mình, cái sân sau, cái chấm đen nhỏ là miệng giếng. Và xa hơn về phía nam, sau lưng trấn, Khe Đá đen ngòm, đang có một làn khói rất mỏng bốc lên, màu trắng xám, thẳng đứng trong chiều không gió.
Khói ấy không giống khói bếp.
— Hết chương 4 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe