Chương 12: Đêm bà Tảo đi tìm cô Lắng
Thằng Chũn tìm ra dấu chân trước.
Nó cầm đèn bão, cúi rạp xuống sân gạch, rồi ra tới cổng sau, chỗ con ngõ đất dẫn ra bờ suối. Đêm đầu tháng Mười, sương đã xuống dày, cỏ hai bên ngõ ướt đẫm. Giữa vệt cỏ ướt có một vệt cỏ rạp, nhỏ, đều, từng bước ngắn.
– Bà đi chân đất, chú ạ. Bước ngắn thế này là bà. – Nó chỉ. – Đi về phía bãi tha ma.
Bà Mận đứng ở cổng sau, nghiêng đầu nghe gió.
– Không phải bãi tha ma. Qua bãi tha ma là rừng lau. Qua rừng lau là Khe Đá.
– Bu cháu đi Khe Đá làm gì?
– Tôi không biết. – Bà Mận nói. – Nhưng cái hũ ấy đi theo bà ấy. Nước cái trong hũ là nước cái nhà họ Đinh, ba trăm năm chưa thay. Nó với Vân Cốt là một gốc. Gốc gọi gốc.
Ba người đi. Thằng Chũn cầm đèn đi trước, lần theo vệt cỏ rạp. Đọng đi giữa. Bà Mận gõ gậy đi sau, nhanh hơn Đọng tưởng. Trời không trăng, sao dày như vãi muối. Hơi lạnh từ dưới đất bốc lên, nhưng tới chỗ suối Nứa chảy qua chân bãi tha ma, hơi nước trên mặt suối lại ấm, mờ mờ như khói.
Vệt cỏ rạp đi thẳng qua bãi tha ma, không vòng, không rẽ. Ngang qua mộ ông Ngạn, có một vệt cỏ rạp tròn, như có người dừng lại đứng một lúc. Rồi lại đi tiếp vào rừng lau.
Ra khỏi rừng lau thì thấy ánh đuốc ở cửa khe.
Hai người phu gác cửa khe đêm nay quen mặt Đọng. Một người là thằng phu trẻ mắt đỏ, giờ mắt đã trắng lại. Nó chạy ra đón.
– Anh Đọng! Có bà cụ đi vào trong khe, chúng em giữ không được. Bà cụ cứ đi, ôm cái hũ, ai cản bà cũng bảo: tôi đi tìm cô Lắng. Chúng em sợ làm bà ngã nên không dám giằng. Cai Quẩn đang theo bà vào trong.
Đọng chạy vào.
Lòng khe hẹp, vách đá đen hai bên dựng đứng, rêu bám ướt nhẫy. Đèn treo dọc vách soi những đống đất mới đổ, bốc hơi. Đi chừng năm mươi bước, tới chỗ cửa hầm, anh thấy bà Tảo.
Bà ngồi bệt dưới đất, lưng tựa vào vách đá ngay bên cạnh miệng hầm, hai chân duỗi thẳng, cái hũ sành da lươn đặt trong lòng, hai tay ôm lấy nó. Áo cánh nâu ướt sương. Chân trần lấm bùn. Cai Quẩn đứng cách bà mấy bước, gãi đầu, mặt bối rối như con trâu đứng trước cái cổng hẹp.
Bà Tảo đang nói. Không phải nói với cai Quẩn. Bà quay mặt vào vách đá, áp má vào đá, nói nhỏ, đều, như người ta nói với ai đang nằm ở buồng bên.
– Cô Lắng ơi. Thằng nhỏ lớn rồi. Nó điểm đậu được rồi. Chỉ có điều nó khuấy nhanh lắm, bảo mãi không nghe. Giống cô hồi mười lăm tuổi. – Bà cười khẽ. – Cô ở trong ấy có lạnh không? Tôi mang hũ cho cô đây. Tôi cho nó ăn đủ bữa, bốn mươi mốt năm, không bỏ bữa nào.
Đọng đứng sững. Thằng Chũn chạy tới sau lưng anh, cũng đứng sững. Bà Mận tới sau cùng, dừng lại, nghe.
– Bu ơi.
Bà Tảo quay lại, nhìn anh. Mắt bà trong. Không mờ, không đục. Trong như hồi bà còn đứng bếp.
– Con đến rồi à. Con đến đúng lúc. Cô Lắng gọi bu. Bu nghe tiếng cô ấy gọi từ trong giếng, gọi suốt mấy đêm nay, gọi tên bu. Bu bảo con thì con không nghe thấy, nên bu phải đi.
– Bu về đi. Lạnh lắm.
– Bu chưa về. Cô ấy chưa trả lời.
Đọng ngồi xuống cạnh bà. Đá vách sau lưng bà ấm, ấm như vách lò. Anh đặt tay lên vách. Dưới lòng bàn tay, sâu trong đá, có một cái gì đó đập rất chậm. Không phải tiếng búa. Như mạch ở cổ tay người ngủ.
Cái vẩy trắng trong đan điền anh gợn lên một chút.
Có tiếng chân rầm rập từ trong hầm vọng ra. Năm người mặc áo trắng của đệ tử nội môn Ngưng Hà Tông bước ra từ miệng hầm, người đi đầu là một ông trưởng lão trung niên, mặt dài, râu ba chòm, thắt lưng đeo kiếm. Đọng nhận ra ông ta là người Rạng tả: người đứng ở cửa hầm nói chuyện Vân Cốt.
– Ai cho người lạ vào đây? – Ông ta quát cai Quẩn.
– Dạ... bà cụ lẫn, đi lạc...
– Đi lạc mà ôm theo cái hũ? – Ông trưởng lão nhìn cái hũ trong lòng bà Tảo, mắt nheo lại. Ông ta nhìn sang Đọng. – Tên bán đậu. Ta biết mặt ngươi. Ngươi lên gặp Đại trưởng lão hôm mùng mười. – Ông ta quay sang đám đệ tử. – Giữ cả ba lại. Cái hũ cũng giữ. Mang lên Chấp Pháp Đường hỏi.
Hai đệ tử bước tới. Bà Tảo ôm cái hũ chặt hơn, co người lại như con mèo già.
Đọng đứng dậy, đứng chắn trước bà. Anh không có kiếm. Anh là Luyện Khí tầng sáu, đối diện năm người nội môn ít nhất tầng tám, một trưởng lão Trúc Cơ hậu kỳ. Anh biết thế. Anh vẫn đứng.
Bà Mận gõ gậy xuống đất một tiếng. Thằng Chũn lùi lại, nhưng không chạy.
Một luồng gió thổi xuống từ trên cao. Không phải gió khe. Gió lạnh, thẳng, mang theo mùi tùng, thổi tắt hai ngọn đèn treo trên vách. Có người đáp xuống giữa lòng khe, nhẹ như chiếc lá rơi, đứng giữa Đọng và đám đệ tử áo trắng. Áo lam nhạt. Tóc búi cài trâm gỗ. Thanh kiếm vừa đưa ông xuống đã thu vào vỏ.
Năm đệ tử áo trắng quỳ sụp xuống. Ông trưởng lão râu ba chòm cúi gập người.
– Tông chủ.
– Phạm trưởng lão, – Kiều Tĩnh Phong nói, giọng không to, – nửa đêm mang năm người ra bắt một bà già bảy mươi tám tuổi đi chân đất. Ngươi định hỏi bà ấy cái gì ở Chấp Pháp Đường?
– Bẩm, kẻ này...
– Bà ấy là khách của ta. Người bán đậu này là khách của ta. Bà trận sư kia cũng là khách của ta. – Kiều Tĩnh Phong không quay lại. – Ngươi về hầm làm việc của ngươi. Đại trưởng lão hỏi thì nói ta cho họ về.
Ông trưởng lão họ Phạm mím môi, đứng thẳng lên, chắp tay, rồi dẫn đám đệ tử quay vào hầm. Tiếng búa đục đá trong hầm, đã ngừng từ nãy, lại vang lên.
Kiều Tĩnh Phong quay lại. Ông nhìn bà Tảo đang ngồi dưới đất ôm hũ. Ông đứng nhìn rất lâu. Rồi ông quỳ một chân xuống trước mặt bà, ngang tầm mắt bà.
– Bà Tảo. Cháu đưa bà về.
Bà Tảo ngẩng lên. Mắt bà vẫn trong. Bà nhìn ông, nhìn từ cái trâm gỗ trên tóc xuống tới nếp nhăn bên khóe miệng.
– Cậu Phong. – Bà nói. – Cậu Phong lâu lắm không xuống mua đậu.
Kiều Tĩnh Phong không trả lời. Đọng thấy hai vai ông co lại, như người bị gió lạnh thổi vào gáy.
– Cậu Phong, cô Lắng đợi cậu mãi. – Bà Tảo nói, giọng trách mà hiền, như trách một đứa cháu về muộn. – Đêm ấy cô ấy đứng ở sân đợi cậu tới canh tư. Cô ấy bảo cậu Phong hứa xuống. Cậu không xuống.
Trong lòng khe im phắc. Tiếng búa trong hầm vọng ra, đều đều.
Kiều Tĩnh Phong cúi đầu.
– Cháu biết. – Ông nói. – Cháu xin lỗi bà.
Ông đỡ bà Tảo đứng dậy. Ông cầm lấy cái hũ, ôm trước ngực bằng hai tay, cẩn thận như ôm một đứa trẻ. Bà Tảo để ông cầm. Bà vịn tay Đọng, chậm chạp đi ra khỏi khe.
Năm người đi về qua rừng lau, qua bãi tha ma, không ai nói câu nào. Kiều Tĩnh Phong không bay. Ông đi bộ, ôm cái hũ, đi sau bà Tảo, bước chân chậm theo bước chân bà. Thằng Chũn cầm đèn đi trước, thỉnh thoảng lại ngoái lại nhìn ông như nhìn một con vật lạ. Bà Mận đi cuối cùng, gõ gậy, mặt cúi xuống.
Về tới nhà thì đã gần bốn giờ. Giờ điểm đậu.
Đậu đã ngâm từ chiều. Đọng chưa kịp xay. Anh đứng giữa bếp, nhìn cái cối đá, nhìn nồi gang, rồi nhìn người đàn ông áo lam đang đứng ở hiên, tay vẫn ôm cái hũ.
– Tông chủ ngồi đi ạ.
– Cậu cứ làm việc của cậu.
Đọng xay. Thằng Chũn đổ đậu vào lỗ cối. Bà Tảo ngồi ở bậc thềm, bà Mận ngồi cạnh bà. Kiều Tĩnh Phong đặt cái hũ trở lại trên bệ gạch cạnh giếng, đúng chỗ cũ, rồi đứng ở mép hiên, không ngồi.
Bà Mận quay mặt về phía ông. Một lúc, bà lên tiếng:
– Tông chủ còn nhớ tôi không?
Kiều Tĩnh Phong nhìn bà già mắt trắng đục, mất một nhịp mới đáp.
– Bà Tiết. Năm ấy tôi là người đứng mài mực cho bà vẽ trận chín cột. Bà bảo tôi mài mực đặc quá, nét trận sẽ cứng.
– Cậu vẫn còn mài đặc quá. – Bà Mận nói. – Bốn mươi năm rồi mà cậu vẫn đứng cứng như cột.
Kiều Tĩnh Phong không đáp. Thằng Chũn đổ hụt nửa muỗng đậu ra ngoài cối.
Lúc nấu nước đậu, Đọng múc một bát sữa đậu nóng, rắc ít đường, mang ra mời. Kiều Tĩnh Phong cầm bát bằng hai tay, nhìn làn hơi bốc lên, rồi uống. Uống chậm, uống hết. Ông không khen ngon. Ông chỉ úp bát xuống mặt bàn, như người ta úp bát sau bữa cơm cuối cùng ở nhà người thân trước khi đi xa.
Lúc Đọng điểm đậu, ông đứng bên nồi, cách một bước. Anh rót nước cái, khuấy. Tới vòng thứ mười mấy, Kiều Tĩnh Phong nói khẽ, gần như không thành tiếng:
– Chậm lại.
Đọng chậm lại. Ba vòng thuận. Một vòng nghỉ. Mặt nồi gợn lên những vẩy trắng đầu tiên.
Trời bắt đầu xám. Gà nhà bà Ba Sắn gáy. Kiều Tĩnh Phong quay ra sân, đứng cạnh cái giếng một lúc. Ông cúi xuống nhìn vào lòng giếng, rất lâu, lâu tới mức Đọng tưởng ông sẽ không đi nữa. Rồi ông đứng thẳng dậy, rút kiếm.
Trước khi bay đi, ông quay lại nói với Đọng một câu, giọng bình thường như dặn mua thêm năm bìa đậu.
– Đừng bỏ buổi sáng nào.
Thanh kiếm nhấc ông lên, vạch một đường mảnh lên nền trời đang hửng, bay về phía đỉnh núi.
Ở bậc thềm, bà Tảo đứng bật dậy. Bà nhìn theo vệt kiếm trên trời, miệng mở ra, run run.
– Cô Lắng, – bà nói. – Cô Lắng nói câu ấy. Đêm ấy cô Lắng đưa thằng nhỏ cho tôi, cô ấy cũng nói đúng câu ấy. Đừng bỏ buổi sáng nào.
Bà quay sang Đọng, nắm lấy cổ tay anh, chặt như kìm.
– Sao cậu Phong biết?
— Hết chương 12 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe