AI Truyện
Hũ nước cái ở tiệm đậu phụ chân núi Ngưng Hà

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn

Người đàn bà tên Lắng

Hũ nước cái ở tiệm đậu phụ chân núi Ngưng Hà · Chương 8/20 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 8: Người đàn bà tên Lắng

Đọng không đuổi bà Mận đi.

Anh định đuổi. Cả buổi sáng hôm ấy, lúc bán đậu, lúc rán đậu, lúc múc nước chua cho người nhà mấy đứa trẻ say khí, câu đuổi cứ nằm sẵn trên đầu lưỡi. Nhưng trưa, anh bưng cơm lên gác, thấy bà già ngồi quay mặt vào vách, lưng thẳng, hai tay đặt trên đùi, không động đậy. Như người đang ngồi chờ người ta đến dẫn đi. Thế là câu ấy tự trôi mất.

Anh đặt mâm cơm xuống cạnh bà. Một bát cơm, một đĩa đậu rán, bát canh rau ngót nấu đậu.

– Bà ăn đi.

Bà Mận không quay lại.

– Anh không đuổi tôi à?

– Đuổi bà thì ai đọc vân cho cháu.

Bà già ngồi im thêm một lúc, rồi quay lại, sờ mâm, cầm đũa lên. Ăn được nửa bát, bà mới nói tiếp, giọng bình thường như kể chuyện người khác.

– Anh muốn nghe hết thì tối nay tôi kể hết.

Tối ấy, ba người ngồi quanh bếp: Đọng, bà Mận, và thằng Chũn, nó không chịu đi ngủ, nằm lì ở góc bếp giả vờ ngủ, mắt hé ra một khe. Bà Tảo ngủ trong buồng, thỉnh thoảng nói mê mấy tiếng. Lửa than trong bếp đỏ liu riu. Nồi nước đậu cho mẻ mai đã ngâm sẵn.

Bà Mận kể.

Bốn mươi mốt năm trước, mùa xuân, Ngưng Hà Tông đón bà lên núi. Tông chủ khi ấy là một ông già hiền lành tên Cung Hạc Niên, sắp hết thọ, việc gì cũng giao cho trưởng lão coi trận. Trưởng lão coi trận là Bạch Cảnh Thông. Mới một trăm chín mươi tuổi, Kết Đan trung kỳ, người cao, giọng ấm, nói chuyện rất có lý.

– Ông ấy nói với tôi thế này. Tông có bốn trăm đệ tử, trận Tụ Linh năm cột chỉ đủ khí cho hai trăm. Hai trăm người còn lại tu chậm, chậm thì tông yếu, tông yếu thì các tông khác lấn. Ông ấy bảo dưới chân núi có cái giếng của một nhà làm đậu, khí lọt ra qua đấy, bịt lại thì trận đủ khí cho cả tông. Ông ấy bảo nhà ấy sẽ được đền gấp mười, đào giếng khác. – Bà Mận lắc đầu. – Ông ấy không nói dối. Ông ấy chỉ không nói hết.

Mùa hè năm ấy, bà dựng thêm bốn cột, nâng trận Tụ Linh lên chín cột. Trận thắp lên, khí trên núi dày hẳn. Cùng tháng ấy, trên đường muối phía đông núi có một trận đá lăn, đè chết hai phu gánh muối và một người tiều phu.

Trong buồng, bà Tảo bỗng nói to:

– Anh Khoan đi lấy củi, đá lăn.

Ba người cùng quay về phía buồng. Bà Tảo vẫn ngủ, môi mấp máy.

– Anh Khoan là ai, bà nhỉ? – Thằng Chũn hỏi nhỏ.

Đọng không trả lời. Bà Mận cũng không. Bàn tay bà đặt trên đùi nắm lại, rồi từ từ mở ra.

– Mùa thu năm ấy, – bà kể tiếp, chậm hơn, – tôi xuống chân núi gặp cô Lắng để mượn tấm bản đồ mạch. Cô ấy đang có mang, bụng to rồi. Cô ấy cho tôi mượn. Cô ấy bảo: chị trận sư xem cho kỹ, chỗ chín cột chị dựng, các nhánh mạch đã lệch hết. Cô ấy chỉ cho tôi từng chỗ. Tôi ghi lại. – Bà dừng một lúc. – Tôi ghi lại, rồi tôi mang tấm bản đồ lên cho Bạch Cảnh Thông, và tôi nói với ông ấy là cô Lắng lo hão. Tôi nói thế vì tôi tin trận tôi vẽ không sai. Ba mươi hai tuổi, người ta tin mình lắm.

Tháng Mười, tông xuống bịt giếng. Bà Mận khắc trận lên tảng đá xanh, tự tay đặt. Lắng không cãi. Cô đứng ở cửa bếp, bế đứa con mới đẻ được một tháng, nhìn người ta khiêng đá. Chỉ có bà Tảo đứng sau lưng cô là khóc.

Không có nước giếng, nhà họ Đinh làm đậu bằng nước suối, vân mất. Hai tháng liền, sáng nào Lắng cũng xay, cũng điểm, cũng hát, mà Mận nghe người ta kể đậu ra khuôn trắng phau, phẳng lì.

Rồi tháng Chạp, trào mạch.

– Đêm hai mươi ba tháng Chạp, – bà Mận nói, – suối Nứa bốc hơi như nồi nước sôi. Người trong trấn say khí, mở cửa đi lên núi. Trên núi, chín cột Tụ Linh nóng tới mức tuyết đọng trên đỉnh cột chảy thành nước. Các trưởng lão hoảng, nhưng không ai dám tắt trận, vì trận đang hút khí mạnh nhất từ trước tới giờ, ai cũng đang tu. Tôi đứng ở sân Tụ Linh, nhìn trận của mình. Tôi nghĩ: thôi, đúng là cô Lắng nói đúng.

Bà ngừng lại. Than trong bếp lách tách.

– Gần sáng, có một tiếng nổ dưới chân núi. To như sấm, mà ngắn. Cùng lúc ấy, tôi thấy mắt mình như có ai hắt nước sôi vào. Tảng đá tôi đặt lên giếng đã vỡ. Trận tôi khắc vỡ theo nó, và cái gì vỡ thì quay về người khắc. – Bà đưa tay lên sờ mí mắt. – Mắt tôi mờ dần từ hôm ấy. Một năm sau thì chỉ còn thấy sáng tối.

– Thế còn cô Lắng?

– Sáng ra, người trên núi xuống. Tảng đá nằm hai mảnh ở hai bên miệng giếng. Suối hết bốc hơi. Người say khí tỉnh dậy, không ai nhớ đêm qua mình đi đâu. Còn nhà họ Đinh thì trống không. – Giọng bà Mận khàn đi. – Người ta bảo cô Lắng nhảy xuống giếng. Có người canh giếng thấy cô ấy đi ra sân, đặt tay lên tảng đá, rồi đá vỡ, rồi không thấy cô ấy đâu nữa. Người ta tìm dưới giếng ba ngày, không thấy gì. Bạch Cảnh Thông cho khiêng hai mảnh đá đi, ra lệnh không ai được nói lại chuyện ấy. Tông chủ Cung Hạc Niên mất năm sau. Tôi xin nghỉ, xuống núi, từ đó không vẽ trận lớn nữa.

Thằng Chũn nằm góc bếp, mắt mở to, không giả vờ ngủ nữa.

Đọng ngồi nhìn lửa. Anh không biết mặt cô Lắng. Anh không biết mặt người đàn ông tên Khoan đi lấy củi. Anh chỉ biết cái giếng, cái hũ, cái khuôn, bài hát, và bốn mươi mốt năm buổi sáng. Tất cả những thứ ấy bây giờ đều có một cái tên đứng sau, mà cái tên ấy không có mặt người.

– Bà về đây làm gì? – Anh hỏi. Không giận. Chỉ hỏi.

Bà Mận đưa tay vào ngực áo, lấy ra một cuộn giấy dầu, buộc chỉ gai, mép đã sờn.

– Đây là những gì tôi ghi lại từ tấm bản đồ của cô Lắng, cái mùa thu năm ấy. Bốn mươi năm nay tôi giữ nó. Chữ tôi viết bằng mũi dùi, nổi lên trên giấy, để tôi sờ được. – Bà mở cuộn giấy, lần tay trên đó. – Mùa xuân năm nay, ở miền xuôi, tôi nghe người ta nói Ngưng Hà Tông dựng một trận mới, nối trận Tụ Linh xuống tận chân núi. Tôi giở cuộn giấy này ra tính lại. Tôi tính được, nếu trận ấy thắp lên, mạch sẽ trào trong vòng ba mùa trăng. Còn nếu cùng lúc ấy mà giếng bị bịt, thì...

– Thì sao bà?

– Thì không phải ba mùa trăng. Là ngay đêm bịt. Và không phải như bốn mươi mốt năm trước. Bốn mươi mốt năm trước chỉ có chín cột. Bây giờ là chín cột cộng thêm một hàng Trường Long đâm thẳng xuống. Sườn núi phía nam sẽ trượt. – Bà Mận nói chậm, từng chữ. – Trấn Khe Nứa nằm dưới sườn nam.

– Lệnh bịt giếng là trước Đông chí.

– Tôi biết. Tôi đếm rồi. Hôm nay mùng hai tháng Chín. Tới Đông chí còn tám mươi ngày.

Không ai nói gì thêm. Thằng Chũn ngồi dậy, ôm gối, nhìn hết người này tới người kia.

– Thế giờ làm sao ạ? – Nó hỏi.

Không ai trả lời được nó. Đọng đứng dậy, đi kiểm lại nồi đậu ngâm. Đậu nở căng, vỏ nứt, đúng độ. Anh nhúng tay vào nước. Ấm. Anh đổ nước ấy đi, ra giếng múc nước mới, đun sôi, để nguội, ngâm lại. Làm một việc gì đó bằng tay thì đầu đỡ rối hơn.

Thằng Chũn lò dò theo ra, đứng cạnh anh bên chậu đậu.

– Chú ơi. Cái anh Khoan đi lấy củi ấy, là bố chú à?

– Chắc thế.

– Chú có buồn không?

Đọng nghĩ một lúc. Anh nhúng tay vào chậu, đảo đậu cho đều.

– Chú không biết mặt người ta, nên chú không biết buồn thế nào cho đúng. Chú chỉ thấy tiếc. Như tiếc một nồi đậu mình chưa kịp nếm.

– Em cũng không biết mặt bố em. – Thằng Chũn nói, giọng tỉnh bơ. – Mẹ em bảo bố em đi bè trên sông rồi không về. Em hay nghĩ bố em mặt giống ông thợ rèn đầu phố, vì ông ấy hay cho em kẹo.

Đọng bật cười, lần đầu tiên trong ngày. Thằng Chũn cũng cười, rồi đưa tay vào chậu đảo đậu cùng anh, bắt chước động tác của anh, đảo từ đáy lên, nhẹ tay.

Gần mười giờ đêm, có người đập cổng.

Đập không theo nhịp, đập dồn dập, như người vừa chạy tới không kịp thở. Đọng chạy ra mở. Rạng đứng ngoài cổng, áo xám ướt đẫm mồ hôi, tóc xổ tung, cái thìa gỗ cài tóc mất đâu không biết. Tay nó vẫn cầm cái đòn gánh không.

– Chú Đọng... cháu... cháu vừa ở Khe Đá về.

Anh kéo nó vào, ấn ngồi xuống ghế, rót bát nước. Nó uống một hơi, nước chảy ròng ròng ra cằm.

– Tối nay đến lượt cháu gánh cơm xuống cho bọn người lạ. Sư phụ bếp bảo đặt ở cửa khe rồi đi, không được nhìn vào trong. Cháu đặt xong, định đi thì nghe tiếng đục đá. – Rạng thở dốc. – Cháu tò mò. Cháu biết là không được. Nhưng cháu nấp sau tảng đá nhìn vào. Trong khe có một cái hầm, chú ạ. Một cái hầm to, đào xiên xuống, có đèn treo dọc vách, sâu hun hút. Bọn người lạ đẩy xe đất ra. Đất ở trong ấy bốc hơi, như cám mới rang.

– Còn gì nữa không?

– Có một người đứng ở cửa hầm, mặc áo trắng, trông như trưởng lão. Cháu nghe ông ấy nói với một người đốc công. – Rạng nhắm mắt, nhớ từng chữ. – Ông ấy bảo: còn ba mươi trượng nữa là tới Vân Cốt. Đông chí phải lấy được. Lúc ấy trận trên kia hút mạnh nhất, cái giếng dưới kia mà bịt rồi thì Vân Cốt nổi lên, dễ cạy.

Đằng sau Đọng, có tiếng gậy gõ xuống nền. Bà Mận đã ra tới cửa bếp.

– Vân Cốt là cái gì hả chú? – Rạng hỏi.

Đọng quay lại nhìn bà Mận. Bà già đứng im, hai mắt trắng đục mở to, mặt cắt không còn giọt máu.

– Cái nắp đá dưới mạch nhãn, – bà nói. – Thứ nhà họ Đinh điểm ba trăm năm mới đông được. Họ không định bịt giếng để hút thêm khí đâu. Họ định cạy nắp nồi.

— Hết chương 8 —

Mục lục Hũ nước cái ở tiệm đậu phụ chân núi Ngưng Hà

  1. 1Cái hũ đói lúc ba giờ sáng8 phút
  2. 2Giọt mồi giá bao nhiêu9 phút đọc
  3. 3Bát tào phớ của ông Ngạn9 phút đọc
  4. 4Rằm tháng Tám ở Đài Thử Đá10 phút đọc
  5. 5Mẻ đậu không chịu đông10 phút đọc
  6. 6Bà khách hỏi đậu nhự ba năm9 phút đọc
  7. 7Vân trên mặt đậu10 phút đọc
  8. 8Người đàn bà tên Lắng10 phút đọc
  9. 9Chén trà của Đại trưởng lão10 phút đọc
  10. 10Thằng Chũn gánh đất9 phút đọc
  11. 11Phiên chợ mùng Một10 phút đọc
  12. 12Đêm bà Tảo đi tìm cô Lắng10 phút đọc
  13. 13Mồi của người khác10 phút đọc
  14. 14Lên núi lần thứ ba10 phút đọc
  15. 15Câu hát điểm đậu10 phút đọc
  16. 16Buổi sáng đầu tiên không có đậu9 phút đọc
  17. 17Nồi sôi dưới chân núi10 phút đọc
  18. 18Ba vòng thuận11 phút đọc
  19. 19Mồi chua11 phút đọc
  20. 20Hũ nước cái10 phút đọc

Về truyện này

Hũ nước cái ở tiệm đậu phụ chân núi Ngưng Hà là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Việt của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →