Chương 20: Hũ nước cái
– Chú ơi, dậy. Cái hũ nó đói rồi.
Thằng Chũn đứng ở chân giường, tay cầm cái gáo dừa, lúc ba giờ sáng. Ngoài trời mưa phùn tháng Hai, lất phất như rây bột. Trên núi Ngưng Hà, chuông canh tư vừa đánh xong.
Đọng ngồi dậy.
– Bà đâu?
– Bà dậy rồi, bà đang đứng ở giếng. Bà bảo em gọi chú. Bà bảo chú khuấy bốn vòng, phải dậy sớm mà tập.
Bà Tảo đứng cạnh giếng, khoác cái áo bông mới màu chàm. Áo ấy thằng Chũn mua bằng tiền gánh thuê dành dụm cả mùa đông, tự đi chợ phiên mùng Một tháng Hai chọn, chọn màu chàm vì bà Ba Sắn bảo người già mặc màu chàm cho sang. Mặc vào rộng quá, tay áo dài chùm cả bàn tay, bà phải xắn lên ba nếp. Bà mặc suốt từ hôm ấy, không chịu cởi, kể cả lúc ngủ.
Đọng thả gàu. Nước giếng mát, mát như nước mưa. Anh rót vào gáo cho bà. Bà nghiêng gáo, rót một sợi chỉ vào hũ.
– Ăn đi, ăn đi. Ngoan.
Thằng Chũn đứng cầm đèn. Ba tháng nay đêm nào nó cũng đứng xem. Có lần Đọng hỏi nó xem làm gì, nó bảo để nhớ. Để lúc bà không nhớ nữa thì nó nhớ.
Ba giờ rưỡi, xay đậu. Thằng Chũn quay cối. Lòng bàn tay phải của nó còn một vệt sẹo dài màu hồng nhạt, như vết bỏng nồi. Bây giờ nó quay được bằng cả hai tay, tay nào cũng đều, không đổ ra ngoài hạt nào. Nó quay, hít vào lúc đẩy, thở ra lúc kéo. Nó không có linh căn, hít vào cũng chẳng lắng được tí khí nào. Nhưng nó bảo thở thế thì tay đỡ mỏi.
Bốn giờ, điểm đậu. Bà Tảo ngồi ghế đẩu cạnh nồi, hát. Đọng rót, khuấy. Ba vòng thuận, một vòng nghỉ. Nồi đậu đông, mịn như hoa cau rụng.
Đan điền anh vẫn ở tầng năm. Ba tháng nay, sáng nào quay cối anh cũng hít vào, thở ra, khí lắng xuống từng chút. Lâu lâu anh vẫn nghĩ tới cái vẩy trắng mười một năm mới có được, có được hai tháng thì cho đi. Nghĩ tới thì hơi tiếc, như tiếc một nồi đậu ngon mình bán hết không để phần. Rồi thôi.
Năm giờ, ra khuôn. Vân vẫn đều. Bảy nhánh lớn. Cái rốn tròn. Bên cạnh nó, cái chấm nhỏ bằng hạt đậu, ba tháng nay sáng nào cũng ở đó, mỗi sáng đậm thêm một chút, rất chậm, chậm như rùa bò.
Sáu giờ, Rạng xuống.
Nó vẫn chạy xuống một nghìn tám trăm bậc đá, vẫn thở như ống bễ ở cổng, vẫn búi tóc cắm thìa gỗ. Chỉ có áo nó không còn màu xám bạc vai. Ra Giêng, bếp tông được cấp áo mới, áo màu tro sẫm, có viền xanh ở cổ, đệ tử tầng bốn trở lên mới được mặc viền ấy.
– Chú Đọng, hai mươi lăm bìa như mọi khi ạ. Năm bìa vân rõ thì buộc lạt đỏ.
– Bếp trên vẫn đọc vân à?
– Ông Phong đọc. – Rạng nói. – Ông ấy không làm tông chủ nữa, giờ ông ấy coi trận, ở cái nhà nhỏ sát sân Tụ Linh. Sáng nào cháu cũng mang năm bìa ấy sang cho ông ấy trước. Ông ấy ngồi nhìn, ăn một bìa chấm tương, rồi mới đi xem trận.
Tông chủ mới là một bà trưởng lão già coi vườn thuốc, hội đồng chọn ra sau Tết, người hiền, ít nói, ai cũng bảo được. Bà ấy chưa xuống trấn lần nào. Nhưng tháng Giêng vừa rồi, lễ Tết từ trên núi gửi xuống nhà họ Đàm một gánh: hai cân chè, một tấm lụa, một bao đậu tương giống, và một cái hũ sành mới, da lươn, to bằng cái hũ cũ. Bà Tảo nhìn cái hũ mới, bảo không cần, hũ nhà có rồi. Đọng cất nó vào kho.
Rạng xếp đậu vào thúng. Thằng Chũn ra giành đòn gánh, Rạng không cho.
– Chị gánh. Mày ở nhà mà rán đậu.
– Chị lên tầng bốn rồi mà vẫn gánh à?
– Lên tầng bốn thì gánh nhẹ hơn. – Rạng nói. – Cuối năm nay chị dự khảo hạch.
Nó xốc đòn gánh, đi. Được mấy bước, nó quay lại, cười, cái kiểu cười của người kể chuyện vui mà biết chắc người nghe sẽ cười.
– Chú ơi. Sư phụ bếp bảo khí của cháu đến giờ vẫn có mùi đậu phụ.
Trưa hôm ấy, bà Mận đi.
Bà ở lại qua Tết vì bà Tảo không cho đi. Ngày nào bà đòi đi, bà Tảo cũng hỏi bà là ai, ở nhà bà làm gì, rồi bảo khách thì ở lại ăn cơm đã. Nhưng mưa phùn tháng Hai đã nhẹ, đường xuôi đã khô, và bà bảo bà còn một việc phải làm ở miền xuôi.
– Việc gì ạ? – Thằng Chũn hỏi.
– Dạy học. – Bà Mận nói. – Tao có mấy đứa học trò trận ở bến Đồng Xuyên, bỏ bê nó cả mùa đông rồi. Đứa nào cũng có linh căn, mà vẽ vòng tròn còn méo hơn mày.
Bà đưa cho thằng Chũn cuộn giấy dầu bốn mươi năm, buộc chỉ gai, mép sờn.
– Tao sờ thuộc rồi, không cần nữa. Mày giữ lấy. Tối tối lấy ra mà đọc, chỗ nào không hiểu thì để dành, mùa thu tao về hỏi.
Thằng Chũn ôm cuộn giấy, không nói được câu nào. Nó gật đầu, gật mãi.
Bà Mận quay sang phía Đọng.
– Cái chấm bên cạnh cái rốn ấy, sáng nay thế nào?
– Đậm thêm một chút.
– Thế là được. – Bà nói. – Mấy chục năm nữa nó to bằng cái rốn thì anh tính tiếp.
Bà đội nón, khoác áo tơi, đeo cái gùi tre, chống gậy đi ra cổng. Tới cổng, bà dừng lại, hít một hơi dài, mũi phập phồng, như cái tối mưa phùn tháng Tám bà mới tới.
– Mát rồi, – bà nói. Rồi bà đi.
Đọng đứng ở cổng nhìn theo, tới lúc cái nón lá cũ khuất sau gốc gạo đầu cầu.
Chiều, mưa lại lất phất.
Gần giờ Thân, có một ông già đi xuống từ bậc đá cuối phố. Đi một mình, chống gậy, đi ba bước nghỉ một bước, như ông Ngạn năm nào. Áo ông màu trắng đã ngả cháo lòng. Đầu ông gần như trọc, chỉ còn mấy sợi tóc bạc. Da mặt xám, nhăn nheo, như da quả táo phơi khô.
Ông dừng trước cổng tiệm, ngồi xuống cái ghế tre ở hiên, cái ghế bà Ba Sắn đóng lại chân hồi đầu tháng Chín. Ông ngồi thẳng lưng, hai tay đặt trên gối, thở ra một hơi dài.
Đọng nhận ra ông. Anh đứng ở cửa bếp một lúc, rồi mới đi ra.
– Ông dùng gì ạ?
Bạch Cảnh Thông ngẩng lên. Mắt ông vẫn sáng, vẫn hiền. Cái mùi chua trong hơi thở đã nhạt đi nhiều, chỉ còn thoang thoảng.
– Một bìa đậu trắng. Chấm tương.
Đọng mang ra một bìa đậu sáng nay, đặt trên đĩa sành, một chén tương nhỏ. Bạch Cảnh Thông cầm đũa, gắp một miếng, chấm tương, ăn. Ông ăn chậm, nhai kỹ.
– Đậu nhà cậu, ta ăn hai mươi năm, – ông nói. – Sáng nào bếp cũng mang lên. Chưa bao giờ ta ngồi ở đây ăn.
Đọng không nói gì. Thằng Chũn ở trong bếp thò đầu ra nhìn, rồi rụt vào.
Bạch Cảnh Thông ăn hết miếng thứ hai, đặt đũa xuống. Ông cúi xuống nhìn mặt bìa đậu, nhìn rất lâu, như hôm ông nhìn hai mươi bìa đậu Đọng mang lên Tông Vụ Đường.
– Có thêm một chấm, – ông nói. – Cạnh cái rốn.
– Dạ.
– Của cậu.
– Dạ.
Ông gật đầu, chậm. Ông không hỏi gì thêm. Một con chào mào đậu xuống cành sấu, rũ nước mưa trên cánh, rồi bay đi.
Ông ăn hết bìa đậu. Rồi ông lấy trong tay áo ra mấy đồng, đặt lên bàn. Rồi ông chống gậy đứng dậy.
– Cậu gói cho ta thêm một bìa. Mai ta không xuống được nữa.
Đọng gói một bìa đậu trong lá chuối, buộc lạt đỏ, đưa cho ông. Bạch Cảnh Thông cầm, đi ra cổng, rồi đi ngược lên phía bậc đá. Ba bước, nghỉ một bước. Đọng đứng nhìn tới lúc ông khuất sau cây gạo, sau cái miếu thổ địa nhỏ.
Mấy đồng ông để lại trên bàn, Đọng không cất vào hộp tiền. Anh đặt chúng lên bàn thờ ông Cối, cạnh cái hộp gỗ đựng hai mảnh đá gói vải, một mảnh trắng nguyên, một mảnh nửa vàng, và cái lọ sứ rỗng của ông Ngạn.
Lúc rửa khuôn chiều hôm ấy, thằng Chũn cầm cái khuôn gỗ trầm hương thủy lên, lật ngược, nhìn cái chữ nhỏ bằng hạt gạo dưới đáy.
– Chú ơi. Mẹ chú khắc tên chú vào khuôn để làm gì?
Đọng cầm cái khuôn từ tay nó, miết ngón tay lên chữ khắc. Nét móc ở cuối chữ cong như lưỡi câu.
– Chú cũng không biết. Có khi để sau này chú biết khuôn nào là của mình.
Thằng Chũn ngồi im một lúc. Rồi nó vào kho, lục ra một cái khuôn mít, cái cũ nhất trong ba cái, mép đã sứt. Nó đặt lên bàn trước mặt Đọng, không nói gì.
Đọng nhìn cái khuôn, rồi nhìn nó. Anh lấy con dao nhỏ vẫn dùng để cắt đậu nhự, lật ngược khuôn, khắc vào góc trái dưới đáy. Anh không khéo tay. Nét chữ của anh run, ngang không thẳng, nét móc cuối chữ cụt lủn. Khắc xong, anh thổi vụn gỗ đi, đưa cho thằng bé.
Thằng Chũn nhìn chữ "Chũn" xiêu vẹo dưới đáy khuôn rất lâu.
– Xấu thế chú.
– Ừ. Xấu. – Đọng nói. – Mai mày ép thử bằng khuôn ấy xem đậu có ra hồn không.
Tối, bà Tảo ăn được một bát cháo đậu, rồi ngồi ở hiên, ôm cái hũ. Bà không ôm nó cả ngày như hồi tháng Mười Một nữa, chỉ tối mới ôm, một lúc, rồi đặt lại lên bệ gạch. Thằng Chũn ngồi cạnh bà, giở cuộn giấy dầu ra, lấy ngón tay sờ lên những chữ nổi, mắt nhắm lại, môi mấp máy, như bà Mận.
Bà Tảo nhìn nó, rồi quay sang Đọng.
– Cô Lắng ăn chưa con?
Đọng nghĩ một lúc. Rồi anh bảo:
– Ăn rồi bu ạ. Sáng nay ăn no.
Bà gật đầu, yên tâm, rồi hỏi thằng Chũn là con nhà ai mà ngồi đây muộn thế.
Khuya, Đọng ra giếng. Anh không múc nước. Anh chỉ đứng nhìn. Mưa đã tạnh. Trời quang, sao dày như vãi muối.
Hơi giếng bốc lên mặt anh, không ấm, không lạnh, vừa vặn như hơi thở người ngủ say.
Anh cúi xuống nhìn vào lòng giếng. Tối om, sâu hun hút, chỉ có một vòng sáng nhỏ dưới đáy, là mặt nước phản chiếu mấy ngôi sao. Anh đứng rất lâu.
Dưới đáy giếng, mặt nước gợn lên ba vòng, chậm, theo chiều kim đồng hồ. Rồi đứng yên, đúng bằng một vòng.
— Hết —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe