Chương 17: Nồi sôi dưới chân núi
Sáng hai mươi mốt, Đọng gánh nước chua lên đồi Sim.
Lưng đồi đã thành một cái chợ không ai bán. Người ta căng chiếu, căng vải dầu giữa mấy gốc sim, dựng lều bằng tre chặt vội. Khói bếp bốc lên từ chục chỗ. Trẻ con chạy giữa các lều, đuổi một con lợn sổng. Bà Ba Sắn đã kịp bày nồi bánh đúc dưới một gốc sim, bán một đồng hai miếng, ai không có tiền thì cho chịu. Nhìn từ đây xuống, trấn Khe Nứa chìm trong một lớp hơi trắng, chỉ nhô lên mấy mái nhà cao và ngọn cây gạo đầu cầu, như mấy hòn đảo nổi trên mặt nồi cháo.
Bà Tảo ngồi trong một cái lều canh sim, ôm cái hũ, quấn chăn. Rạng ngồi cạnh. Thấy Đọng, bà cười, hỏi anh có phải người mua đậu không.
Rạng kéo anh ra ngoài lều.
– Chú ơi, cháu phải lên núi.
– Chưa tới đêm.
– Đêm thì không kịp. – Con bé nói nhanh, như đã nghĩ suốt đêm. – Bà Mận bảo đảo cả Tụ Linh lẫn Trường Long thì tông chủ phải đứng ở tảng đá chủ trận, mà cột cuối cùng của Trường Long nằm ở mép vực, cách tảng đá chủ trận ba trăm bước. Viên ngọc trên đỉnh cột ấy phải có người xoay ngược lại đúng lúc trận đảo, không thì trận đảo được nửa, nửa kia vẫn hút. Tông chủ không thể đứng hai chỗ.
– Cháu biết đâu mà nói thế?
– Bà Mận nói với cháu hôm bà viết thư. Bà bảo trong thư gửi tông chủ, bà đã vẽ chỗ ấy, nhưng không nói ai đứng. – Rạng nhìn thẳng vào anh. – Người lên tầng bốn mới được vào sân Tụ Linh. Cháu tầng bốn rồi, chú ạ. Cháu lên tầng bốn là để làm việc này.
Đọng nhìn con bé rất lâu. Ba tháng tạp dịch nó mới làm được một tháng rưỡi. Lên núi lúc này là trái lệnh, bị bắt là bị đuổi hẳn.
– Đường chính có người của Đại trưởng lão canh.
– Cháu đi đường gánh. Cái đường bếp gánh cơm xuống Khe Đá ấy, vòng sau núi. Cháu gánh mười mấy lần rồi, nhắm mắt cũng đi được.
Trước khi đi, Rạng vào lều quỳ xuống trước bà Tảo, chào bà. Bà Tảo vuốt tóc nó, hỏi con nhà ai mà ngoan thế. Rạng bảo con là Rạng, con lên núi mua đậu. Bà Tảo bảo ừ, mua đậu thì chọn bìa có vân.
Đọng chạy về nhà một chuyến. Bà Mận lấy dùi chọc giấy, viết cho Rạng một mảnh chữ nổi, Đọng tô mực rồi mang lên đồi: "Chuông canh tư đêm Đông chí. Người cầm thư đứng cột cuối." Rạng cài mảnh giấy vào búi tóc, cạnh cái thìa gỗ, rồi đi về phía rừng thông sau núi, không ngoảnh lại.
Thằng Chũn đứng cạnh Đọng, nhìn theo cho tới khi cái áo xám khuất sau hàng thông.
– Chị Rạng đi một mình có sao không chú?
– Chị ấy gánh đậu ba năm, một nghìn tám trăm bậc, chưa ngã lần nào. – Đọng nói. Anh nói thế cho thằng bé yên, cũng là nói cho chính anh yên.
Ngày hai mươi mốt dài như một tháng.
Hơi suối không tan. Tới trưa, nó dâng lên khỏi lòng suối, tràn vào các ngõ dọc phố Đầu Cầu, bò lên tới bậc thềm nhà họ Đàm. Đất dưới chân ấm dần, ấm tới mức Đọng đi chân đất trong sân thấy như đi trên nền bếp. Cái giếng bị bịt im lìm, nhưng thỉnh thoảng tảng đá xanh lại rung lên rất khẽ, những nét trận đỏ trên mặt đá lóe sáng một chập rồi tắt, như mạch máu đập dưới da.
Bốn đứa đệ tử canh giếng không đứng dậy được nữa. Đứa lớn nhất tên Ung Văn Thìn, mười chín tuổi, người làng dưới xuôi lên tu, ngồi dựa tường, máu mũi chảy không cầm được, uống nước chua xong đỡ được một khắc rồi lại chảy. Đứa bé nhất, mười sáu tuổi, nằm co trên ổ rơm, mê man gọi mẹ.
Tối hai mươi mốt, Đọng với thằng Chũn cõng từng đứa lên đồi Sim. Bốn lượt. Lượt cuối cùng là thằng Thìn. Nó nằm trên lưng Đọng, nặng hơn anh tưởng, kiếm vẫn đeo bên hông, chuôi kiếm cứ thúc vào sườn anh.
Đi được nửa đường, nó nói vào gáy anh:
– Ông định gỡ đá à?
Đọng không trả lời.
– Phạm trưởng lão bảo ai đụng vào đá thì bắt. – Thằng Thìn nói, giọng khàn khàn. – Nhưng bọn tôi đang nằm trên đồi Sim. Bọn tôi không thấy gì.
Đọng đặt nó xuống một cái lều cạnh lều bà Tảo, đắp chăn cho nó. Lúc anh quay đi, nó gọi với theo:
– Ông bán đậu ơi. Mẹ tôi ở dưới xuôi cũng làm đậu. Đậu nhà tôi không có vân.
Trước khi xuống, Đọng sang lều bà Tảo, quỳ xuống xin cái hũ. Bà đang ngủ ngồi, hai tay ôm hũ. Anh vừa chạm vào nắp, bà mở mắt, ôm chặt lại.
– Chưa đến giờ. Ba giờ nó mới ăn.
– Con mang về cho nó ăn ở giếng, bu ạ.
– Ba giờ bu cho nó ăn. – Bà nói, rồi nhắm mắt lại, như thế là xong chuyện.
Anh ngồi một lúc lâu bên cạnh bà. Rồi anh để cái hũ lại. Còn một ngày nữa. Mai anh lên lấy cũng kịp.
Đêm hai mươi mốt không ai ngủ được. Đêm hai mươi hai cũng thế.
Chiều hai mươi hai tháng Mười Một, tiết Đông chí, trời không có gió. Hơi suối dựng đứng như tường. Mặt trời lặn đỏ như lòng đỏ trứng, chìm vào lớp hơi trắng mà không thấy chạm núi. Trên đỉnh Ngưng Hà, chín cột Tụ Linh với chín cột Trường Long bắt đầu sáng, ánh xanh nhạt, rõ dần khi trời tối, như một sợi chỉ xanh vắt từ đỉnh núi xuống vực phía nam. Lần đầu tiên người dưới chân núi nhìn thấy trận Tụ Linh bằng mắt thường.
Trưa hôm ấy, Đọng lên đồi Sim lần nữa. Bà Tảo lại ôm chặt cái hũ, lại bảo ba giờ. Thầy Bổng kéo anh ra, bảo bà sốt nhẹ từ sáng, giằng lúc này bà ngất thì khổ. Anh để lại. Anh tính tới đêm, gỡ đá xong, anh sẽ lên đón cả bà lẫn hũ.
Ăn tối xong, bà Mận gọi Đọng ra hiên. Bà ngồi quay mặt về phía giếng, như mọi đêm.
– Đêm nay lúc anh rót, nghe tôi dặn một câu. Đừng nhìn xuống giếng.
– Sao thế bà?
– Vì anh nhìn xuống là anh muốn biết dưới ấy có gì. Muốn biết thì tay nhanh lên. – Bà nói. – Anh nhìn sợi nước cái thôi. Nhìn nó từ miệng hũ tới miệng giếng. Còn dưới ấy có gì, để dưới ấy lo.
Đọng gật đầu, rồi nhớ ra bà không nhìn thấy.
– Vâng.
Giờ Dậu, bà Mận với thằng Chũn bắt đầu gỡ đá.
Thằng Chũn ngồi xổm trên mặt tảng đá xanh, tay cầm một cái dao tre mỏng bà Mận vót cho từ hôm trước, lưỡi dao nhúng nước chua. Bà Mận ngồi trên một cái ghế đẩu kê sát thành giếng, hai bàn tay đặt hờ trên mặt đá, cách một đốt ngón tay, không chạm. Đọng đứng cầm đèn.
– Đọc cho tao nghe, – bà Mận nói.
– Vòng ngoài cùng có ba mươi sáu nét. Nét nào cũng cong như cái liềm. Đầu liềm quay theo chiều kim đồng hồ.
– Tìm cái nét nào đầu liềm quay ngược.
Thằng Chũn cúi sát mặt đá. Một lúc lâu.
– Có một nét. Ở phía bà ngồi. Ngay trước tay trái bà.
– Đấy là then. Cạo từ đuôi lên đầu. Cạo một hơi, không được nhấc dao giữa chừng.
Thằng Chũn cạo. Sơn đỏ bong ra thành vảy mỏng, rơi lả tả. Nét liềm ngược mờ đi. Cả vòng ngoài ba mươi sáu nét lóe lên một chập rồi tắt hẳn, chỉ còn màu sơn chết.
– Một vòng, – bà Mận nói. – Còn hai.
Vòng thứ hai khó hơn. Các nét đan vào nhau như mắt lưới, thằng Chũn phải đọc từng mắt, bà Mận nghe, nghĩ, rồi bảo cạo mắt nào. Có những lúc bà ngồi im rất lâu, môi mấp máy đếm. Có lúc bà bảo thằng Chũn đọc lại từ đầu.
Giờ Hợi, mặt đất rung lần thứ nhất.
Không phải rung khẽ như tảng đá rung. Cả cái sân dịch đi một cái, như có ai giật tấm chiếu dưới chân. Cây đèn trong tay Đọng chao mạnh. Ngói trên mái bếp rơi xuống hai viên, vỡ trên nền gạch. Từ phía Khe Đá vọng tới một tiếng ầm, trầm và dài, như tiếng trâu rống trong lòng đất.
Thằng Chũn chúi người về phía trước, tay chống xuống mặt đá. Cái dao tre trong tay nó quẹt ngang qua một mắt lưới.
Một tia đỏ lóe lên từ mặt đá, bắn vào tay nó. Nó hét lên, ngã ngửa xuống đất, ôm bàn tay phải.
Đọng lao tới. Lòng bàn tay thằng bé đỏ rực, phồng rộp một vệt dài như bị dí vào nồi nước sôi. Nó cắn môi, nước mắt chảy ròng ròng, mà không khóc thành tiếng.
– Sai nét, – bà Mận nói. Giọng bà không run. – Trận dội vào người gỡ. Nó dội nhẹ thôi, vì mày là người phàm, không có khí cho nó bám. Mày còn cầm dao được không?
Thằng Chũn nhìn bàn tay phải phồng rộp. Rồi nó nhìn bà Mận.
– Em cầm tay trái.
– Tay trái mày chưa cạo bao giờ.
– Thì hôm nay cạo.
Đọng đổ nước chua lên tay nó, lấy vải sạch quấn lại. Thằng Chũn trèo lên mặt đá lần nữa, cầm dao bằng tay trái. Mắt lưới nó quẹt sai đã sáng đỏ lên, không chịu tắt. Bà Mận bảo phải gỡ mắt ấy trước, gỡ ngược, rồi mới gỡ tiếp được. Thêm một khắc.
Giờ Tý, xong vòng thứ hai.
Mặt đất rung lần thứ hai. Lần này Đọng nghe thấy tiếng nứt. Anh chạy ra cổng, nhìn ra phố Đầu Cầu. Dưới ánh đèn của nhà mình, anh thấy mặt đường đất trước cổng nhà bà Ba Sắn nứt ra một đường. Không to, rộng bằng bàn tay. Đường nứt chạy chéo, từ phía núi chạy xuống phía Khe Đá, xuyên qua cả phố, qua sân nhà ông thợ rèn đã dời đi, qua bờ suối. Hơi trắng bốc lên từ khe nứt, thẳng đứng, như hơi từ miệng nồi cơm.
Đường chéo trên mặt đậu. Bây giờ nó nằm trên mặt đất.
Anh quay vào. Thằng Chũn đang đọc vòng thứ ba cho bà Mận nghe, giọng run run. Vòng thứ ba nhỏ nhất, nằm ở giữa mặt đá, chỉ có chín nét, nhưng chín nét ấy sơn dày gấp ba, đỏ như máu đông.
– Chín nét này là khóa chính, – bà Mận nói. – Gỡ hết thì đá tự nứt. Một canh giờ nữa, nếu không sai.
Một canh giờ nữa là gần ba giờ sáng. Ba giờ, chuông canh tư trên núi sẽ đánh.
Đọng nhìn sang bệ gạch cạnh giếng.
Bệ gạch trống không.
Anh đứng im. Anh biết từ tối hôm kia rằng cái hũ không ở đấy, biết từ lúc đứng ở cổng nhìn theo cái áo cánh nâu. Anh đã nghĩ rằng tới lúc cần, anh sẽ lên đồi Sim lấy. Anh không nghĩ rằng tới lúc cần thì giữa nhà anh với đồi Sim là cả một cái trấn đang bốc hơi, một con suối đang sôi, và một đường nứt vừa xé ngang phố.
– Bà Mận.
– Tôi biết. – Bà nói, không quay đầu lại, hai tay vẫn đặt hờ trên mặt đá. – Anh đi đi. Một canh giờ.
Từ phía Khe Đá lại vọng tới một tiếng ầm. Lần này không trầm và dài. Lần này ngắn, gọn, như tiếng một cái nắp nồi bị cạy bật lên.
— Hết chương 17 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe