Chương 7: Vân trên mặt đậu
Mẻ thứ nhất ra khuôn lúc năm giờ kém mười lăm. Mẻ thứ hai lúc năm giờ. Mẻ thứ ba lúc năm giờ mười lăm, vì Đọng phải đợi óc đậu trong nồi hãm vừa đủ độ mới múc tiếp. Mười hai bìa đậu ép trong cái khuôn gỗ trầm hương thủy, anh xếp lên cái nong to nhất nhà, lót lá chuối, theo thứ tự bà Mận dặn: ra trước nằm bên trái, ra sau nằm bên phải.
Thằng Chũn đứng cầm đèn, ngáp không ra hơi. Bà Tảo vẫn ngủ. Ngoài sân, trời đen kịt, gà nhà bà Ba Sắn mới gáy đợt đầu.
Bà Mận ngồi xuống trước cái nong, hai bàn tay đặt hờ trên bìa thứ nhất.
– Anh đọc cho tôi nghe. Anh nhìn bằng mắt, tôi nhìn bằng tay. Hai người nhìn thì ít sai.
– Đọc thế nào ạ?
– Anh bắt đầu từ góc trên bên phải. Góc ấy là đỉnh núi.
Đọng cầm đèn cúi xuống. Ở góc trên bên phải bìa thứ nhất, các đường vân tụ lại thành một vòng tròn nhỏ, dày đặc như tổ mối.
– Có một vòng tròn. Mấy đường vân chạy vào đấy.
– Đấy là trận Tụ Linh. Chín cột. Khí trong núi bị kéo về đấy, nên các đường mạch chụm lại. – Bà Mận lướt tay theo, gật đầu. – Giờ anh nhìn xuống. Từ vòng tròn ấy có những đường chạy xuống như rễ cây, đúng không?
– Dạ.
– Đấy là các nhánh mạch. Núi Ngưng Hà có bảy nhánh lớn. Anh đếm xem.
Đọng đếm. Bảy đường to nhất, toả ra từ góc trên, uốn lượn xuống dưới. Bao nhiêu năm nhìn vân đậu, anh chưa từng đếm.
– Bảy.
– Bảy nhánh ấy đều chảy về một chỗ ở gần giữa, hơi lệch xuống dưới. Ở chỗ ấy có cái gì?
– Một chấm tròn. Cháu vẫn gọi là cái rốn.
– Gọi thế cũng đúng. – Bà Mận đặt ngón tay lên cái chấm, ấn khẽ. – Chỗ ấy là mạch nhãn. Mắt của mạch. Là cái giếng sau sân nhà anh.
Thằng Chũn đứng cầm đèn, mắt đã tỉnh hẳn. Nó nghiêng người nhìn qua vai Đọng.
– Tức là cái bìa đậu này là bản đồ cả quả núi ạ?
– Là bản đồ những gì chạy trong lòng núi. – Bà Mận nói. – Nước giếng nhà này lên từ mạch nhãn, mang theo khí của cả bảy nhánh. Đậu điểm bằng nước ấy thì đông theo đường khí đang chạy trong nước. Khí chạy chỗ nào mạnh, đậu đông chỗ ấy chặt hơn, thành vân. Đậu nhà khác không có vân, vì nước nhà khác không lên từ mạch nhãn. Nhưng chỉ có nước thôi thì cũng chưa đủ. Phải có thêm nước cái trong hũ nhà anh nữa.
– Nước cái thì liên quan gì ạ?
Bà Mận không trả lời ngay. Bà chuyển tay sang bìa thứ hai, rồi thứ ba, rồi lướt nhanh qua cả mười hai bìa, như người lướt tay trên phím đàn.
– Anh nhìn cái rốn qua mười hai bìa. Đậm hay nhạt đi?
Đọng nhìn. Ở bìa thứ nhất, cái chấm tròn còn rõ. Bìa thứ năm, nó nhạt hẳn. Bìa thứ tám, nó gần như mất. Bìa thứ chín, nó đậm lên một chút. Bìa thứ mười hai, lại nhạt.
– Nó đập, – anh nói. – Như mạch cổ tay.
– Nó thở. Mà thở không đều. – Bà Mận nói. – Giờ anh nhìn vết chéo.
Vết chéo chạy từ chỗ cái vòng tròn trên đỉnh, thẳng xuống góc dưới bên trái. Qua mười hai bìa, nó không nhạt đi chỗ nào. Có một điều anh chưa từng để ý: nó không chạy qua cái rốn, mà chạy sát bên cạnh, như một con dao rạch ngang qua cạnh cái mắt.
– Vết này là trận mới trên núi, – bà Mận nói. – Trường Long Trận. Nó nối từ Tụ Linh xuống tận Khe Đá. Nó không hút khí qua bảy nhánh nữa, mà đâm thẳng một đường xuống, sát mạch nhãn, như người ta cắm ống tre vào nồi cháo hút từ dưới đáy lên.
Đọng ngồi im. Bên ngoài trời đã hửng xám. Tiếng Rạng gọi ở cổng: "Chú Đọng ơi, cháu xuống rồi!"
Anh ra đưa đậu cho con bé. Hai mươi lăm bìa, năm bìa vân rõ buộc dây lạt đỏ. Rạng nhìn qua vai anh, thấy cái nong mười hai bìa đậu xếp hàng trên bàn, bà già mù ngồi trước, thằng Chũn cầm đèn, thì há hốc miệng.
– Nhà chú cúng gì đấy ạ?
– Không. Cháu về đi, kẻo muộn.
Con bé đi rồi, còn ngoái lại hai lần.
Đọng quay vào. Bà Mận vẫn ngồi đó, hai tay đặt trên mép nong.
– Bà chưa nói nước cái liên quan gì.
– Tôi đang nghĩ nói thế nào cho anh tin. – Bà thở ra. – Thôi, nói thẳng. Anh nghe xong thì tin hay không là việc của anh.
Bà kể.
Núi Ngưng Hà có mạch khí lớn nhất vùng, lớn tới mức nó không yên. Dưới đáy núi có hỏa mạch, nung khí lên như lửa nung nồi sữa. Khí sôi thì trào. Trào thì nước suối sôi lên, người phàm say khí, sườn núi nứt, đá lăn. Ba trăm năm trước, trước khi có Ngưng Hà Tông, cả vùng này là đất hoang, chẳng ai dám ở.
Rồi có một nhà họ Đinh từ miền xuôi lên, dựng nhà cạnh một mạch nước dưới chân núi, đào giếng, làm đậu. Sáng nào cũng làm. Họ điểm đậu bằng nước giếng, bằng một thứ nước cái họ mang theo từ quê, và một bài hát. Mỗi lần điểm, nước giếng đông lại trong nồi, thì ở dưới sâu, chỗ nước giếng lên từ mạch nhãn, có một chút khí cũng đông lại theo, kết thành đá, chìm xuống. Một chút xíu thôi, bằng hạt đậu. Nhưng sáng nào cũng có. Mấy chục năm, mấy trăm năm, đá kết lại dưới mạch nhãn thành cái nắp, giữ cho nồi khỏi trào.
– Thế bu cháu không phải họ Đinh, sao bu điểm vẫn được?
– Điểm đậu mỗi sáng thì ai cũng làm được, miễn đúng nước, đúng nước cái, đúng nhịp. Nhịp quan trọng hơn máu. – Bà Mận nghiêng đầu. – Nhưng có những việc lớn hơn điểm đậu. Năm mười hai tuổi anh thử đá, đá có sáng không?
– Không. Đá đục.
– Đục như nước vo gạo, từ chỗ tay anh lan ra?
– Dạ.
– Người trên núi gọi là căn đục, căn hỏng, tu như rùa. – Bà Mận cười, lần đầu tiên Đọng thấy bà cười, cái cười méo như người đau răng. – Nhà họ Đinh đời nào cũng căn đục. Khí vào người họ thì lắng, không chạy. Khí lắng được thì đông được. Căn đục là căn biết đông.
Đọng nhìn hai bàn tay mình. Hai bàn tay chai sạn vì quay cối, vết bỏng cũ ở mu tay trái vì nồi nước đậu sôi trào năm mười lăm tuổi.
– Nhà họ Đinh gọi mình là Hộ Mạch. Người giữ mạch. – Bà Mận nói. – Có nhà họ Đinh rồi, núi yên, người ta mới dám lên núi lập tông. Ngưng Hà Tông lấy tên là vì thế. Ngưng là đông lại. Ông tổ khai tông biết. Mấy đời tông chủ đầu đều biết. Đời nào cũng gửi lễ xuống nhà họ Đinh mỗi Tết.
– Thế bây giờ...
– Bây giờ trên núi ít người còn nhớ. Hoặc nhớ mà làm như không nhớ. – Bà Mận lắc đầu. – Đời Hộ Mạch cuối cùng tôi biết là một cô gái. Tên Đinh Thị Lắng.
Đọng nghe cái tên ấy, như nghe ai gọi mình từ xa.
– Bốn mươi mốt năm trước, tôi ba mươi hai tuổi, là trận sư có tiếng nhất miền xuôi. Ngưng Hà Tông thuê tôi lên. Họ muốn mở rộng trận Tụ Linh, hút được nhiều khí hơn, vì tông đông người dần, khí không đủ chia. – Bà ngừng lại. – Họ đưa tôi xem tấm bản đồ mạch, vẽ trên da dê. Tấm ấy họ mượn của nhà họ Đinh. Chữ ghi chú trên tấm da là chữ cô Lắng. Thuận tay trái, nét móc như lưỡi câu.
Bà quay mặt về phía cái khuôn gỗ đặt trên bàn.
– Cái chữ dưới đáy khuôn này cũng là chữ ấy.
Không ai nói gì. Thằng Chũn đặt cái đèn xuống bàn, rất nhẹ, như sợ làm vỡ cái gì.
Trong buồng có tiếng động. Bà Tảo đã dậy, đang đứng ở cửa, tay vịn khung cửa. Không biết bà đứng đó từ bao giờ. Bà không hỏi ai là khách, không hỏi có phải người mua đậu không. Bà nhìn cái nong mười hai bìa đậu, nhìn cái khuôn, rồi nhìn Đọng.
– Bu ơi.
– Mày biết rồi à? – Bà Tảo hỏi. Giọng bà khàn nhưng rõ, rõ như ngày bà còn đứng bếp. – Ai nói cho mày biết?
– Bu nói đi. Cô Lắng là ai?
Bà Tảo đi tới, chậm, vịn bàn, vịn ghế, ngồi xuống cạnh bà Mận. Hai bà già ngồi cạnh nhau, một người không nhìn thấy, một người không nhớ được. Bà Tảo đặt bàn tay lên cái khuôn gỗ.
– Bu về trấn này năm hai mươi tuổi, đi làm thuê. Mẹ cô Lắng thuê bu xay đậu, cho ở cái buồng cạnh bếp. Bu xay cho nhà ấy mười bảy năm. Từ hồi cô Lắng còn buộc tóc trái đào, tới lúc mẹ cô ấy mất, cô ấy đứng bếp, lấy chồng, chồng chết, có con. – Bà nói đều đều, như kể chuyện hàng xóm. – Tháng Chạp năm ấy, nửa đêm cô ấy bế mày sang buồng bu, cả cái khuôn, cả cái hũ. Mày ba tháng tuổi, ngủ say. Cô ấy bảo: chị Tảo, chị giữ thằng nhỏ với cái hũ giùm em. Sáng nào chị cũng làm đậu bằng nước giếng này, điểm bằng nước trong hũ, hát đúng bài em dạy. Đừng bỏ buổi nào. Rồi cô ấy đi ra sau sân.
– Đi đâu hả bu?
Bà Tảo nhìn ra phía giếng. Mắt bà lại bắt đầu mờ đi, như mặt nước bị khuấy.
– Sáng ra thì cô ấy không còn. Người ta bảo nhà ấy không còn ai. Bu bảo người ta mày là con bu nhặt được. Ông Cối bảo thế cho yên.
Bàn tay bà trượt khỏi khuôn gỗ. Bà quay sang bà Mận, hỏi bà là ai, ngồi nhà bà làm gì, có mua đậu không.
Đọng đứng dậy, đi ra sân. Trời sáng rồi, sương thu đọng trắng trên mái hiên. Anh đứng cạnh giếng, nhìn xuống. Tối om. Một vòng sáng nhỏ dưới đáy. Hơi ấm bốc lên mặt anh, như hơi thở.
Bốn mươi mốt năm, anh múc nước ở đây mỗi sáng.
Một lúc lâu, anh nghe tiếng gậy gõ trên nền gạch. Bà Mận mò ra, đứng cách anh mấy bước.
– Anh giận tôi cũng được. Nhưng anh nghe nốt câu này đã.
Đọng không quay lại.
– Bốn mươi mốt năm trước, người ta thuê tôi lên núi mở rộng trận Tụ Linh. Người ta bảo cái giếng dưới chân núi là lỗ thất khí, làm trận không đủ khí. Người ta nhờ tôi vẽ một trận bịt nó lại. – Giọng bà Mận khàn đi. – Tôi vẽ. Tôi khắc trận lên một tảng đá xanh tròn, đặt lên miệng giếng này, bằng chính tay tôi.
Đọng quay lại.
Bà già đứng giữa sân, nón cầm tay, hai mắt trắng đục nhìn thẳng về phía anh, như thể bà nhìn thấy.
– Tôi là người bịt cái giếng của mẹ anh.
— Hết chương 7 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe