Chương 10: Thằng Chũn gánh đất
Khe Đá nằm sau lưng trấn, cách phố Đầu Cầu chừng nửa canh giờ đi bộ, qua bãi tha ma đồi Sim, qua một rừng lau. Người trấn ít khi tới, vì khe sâu, vách đá đen, mùa mưa nước đổ xuống như thác. Đọng tới nơi lúc trời đã tối hẳn. Cửa khe có hai cây đuốc cắm hai bên, một cái lán tre lợp lá cọ, và hai người đứng gác, tay cầm gậy, không phải kiếm. Phu.
– Tôi tìm thằng bé tên Chũn. Mười hai tuổi, tóc dựng như tổ chim.
– Không biết. – Người gác thứ nhất nói. – Phu mới vào ca từ chập tối, ca đêm ra lúc gà gáy. Không ai được vào trong.
– Tôi đứng đây chờ được không?
– Đứng xa ra.
Đọng lùi ra, đứng dưới một gốc sung già. Từ chỗ ấy anh nhìn thấy miệng khe, và sâu trong khe, một khoảng sáng vàng hắt ra từ một cái lỗ đen trên vách, rộng chừng hai sải tay. Hơi trắng bốc lên từ cái lỗ ấy, cuộn lên trong ánh đuốc. Thỉnh thoảng có tiếng búa đục đá vọng ra, đều đều, như tiếng mõ.
Anh đứng đó tới canh ba. Gió heo may lùa qua rừng lau, xào xạc. Một lần, anh thấy hai người phu khiêng một người thứ ba từ trong khe ra, đặt vào lán. Người ấy không phải trẻ con. Anh thở ra.
Gần ba giờ, Đọng nhìn lên trời. Sao Hôm đã lặn từ lâu. Giờ này bà Tảo đang dậy cho hũ ăn. Giờ này anh phải ngồi bên cối đá.
Anh đứng thêm một lúc. Rồi anh quay về.
Đường về anh chạy. Chạy qua rừng lau, qua bãi tha ma, vấp vào một gò mộ, ngã sấp, đứng dậy chạy tiếp. Về tới nhà, bà Tảo đã ngồi bên giếng, tay cầm gáo, đợi. Bà Mận ngồi trên bậc thềm. Không ai hỏi gì.
Anh xay đậu một mình. Không có thằng Chũn đổ đậu vào lỗ cối, anh làm chậm hơn, tay trái múc, tay phải quay, mồ hôi đầm đìa. Bà Mận đứng bên nồi lúc anh điểm, nghe tiếng muôi, thỉnh thoảng nói khẽ "chậm lại". Đậu ra khuôn lúc năm giờ. Anh xếp lên nong, chọn năm bìa vân rõ, buộc dây lạt đỏ, đặt sẵn ở cổng cho Rạng, rồi lại chạy về phía Khe Đá.
Lúc anh tới nơi, ca đêm đang ra. Mấy chục người phu lếch thếch đi ra từ cái lỗ đen, người nào cũng trắng xóa bụi đất từ đầu tới chân, như người vừa lăn qua cối bột. Có người đi không vững, có người ngồi phịch xuống đất ngay ở cửa khe, có người chảy máu mũi, lấy tay áo quệt.
Không có thằng Chũn.
Đọng chặn một người phu lại. Anh ta trẻ, chừng hai mươi, mắt đỏ quạch.
– Thằng bé tóc dựng ấy hả? Nó gánh đất trong cùng, chỗ gần mặt đá. Đốc công bảo trẻ con gầy, chui được chỗ hẹp. – Anh ta lắc đầu. – Nửa đêm nó lăn ra, người nóng như hòn than. Đốc công cho khiêng vào lán trong.
– Lán trong ở đâu?
Người phu chỉ về một cái lán thứ hai, nằm sâu trong khe, sát vách đá. Đọng đi tới. Một người đàn ông chặn trước cửa lán, to bè, tầm năm mươi, mặt rỗ, hai cánh tay to như hai khúc gỗ, giọng miền xuôi.
– Đi đâu?
– Tôi đến đón thằng bé.
– Thằng nào?
– Thằng Chũn. Nó ở với tôi.
Người đàn ông nhìn Đọng từ đầu tới chân. Anh ta là đốc công, tên Quẩn, người ta gọi là cai Quẩn, nhận thầu đào hầm từ Ngưng Hà Tông với giá sáu trăm lượng. Bốn mươi phu là người của anh ta, đưa từ miền xuôi lên, ngoài ra tuyển thêm phu ở các trấn quanh núi, trả theo đêm.
– Nó nợ tôi một đêm công, – cai Quẩn nói. – Tôi trả nó mười đồng trước. Nó mới làm được nửa đêm.
– Tôi trả lại mười đồng.
– Không phải chuyện tiền. – Cai Quẩn khoanh tay. – Thằng nào vào hầm thì thấy những gì trong hầm. Chủ thầu dặn: không thằng nào được ra trước khi hầm xong, kể cả thằng ốm. Ra ngoài là ra nói lung tung.
Đọng nhìn qua vai anh ta, vào trong lán. Có bảy tám người nằm trên chiếu, mặt đỏ, thở hắt ra. Một người đang ngồi bịt mũi bằng nắm lá. Trong góc, một cái dáng nhỏ co ro dưới tấm chăn chiên.
– Ông có bao nhiêu người say khí rồi?
Cai Quẩn không trả lời.
– Tôi đếm được ở cửa khe sáng nay mười một người chảy máu mũi. Trong lán này tám người. – Đọng nói. – Hầm của ông càng đào sâu, đất càng bốc hơi. Đào thêm mười hôm nữa, nửa số người của ông nằm. Đào thêm hai mươi hôm, ông không còn ai cầm cuốc.
– Thầy thuốc trên núi cho thuốc rồi.
– Thuốc ấy có ăn thua không?
Cai Quẩn mím môi. Không cần trả lời.
– Tôi có thứ chữa được say khí. Cả trấn Khe Nứa uống từ tháng Tám, hai mươi mấy đứa trẻ khỏi cả. – Đọng nói. – Ông cho tôi đón thằng bé về. Tối nay tôi gửi lên đây đủ cho bốn mươi người uống. Tối nào cũng gửi, tới khi hầm xong.
– Thứ gì?
– Nước chua của đậu.
Cai Quẩn bật cười, cười to, cười như nghe chuyện tếu. Rồi tiếng cười tắt dần, vì người đàn ông bán đậu đứng trước mặt anh ta không cười.
– Ông thử thì biết, – Đọng nói. – Không khỏi thì tối mai tôi tự đưa thằng bé trả lại cho ông.
Một người phu nằm trong lán ho sù sụ, rồi nôn ra một bãi. Cai Quẩn quay lại nhìn. Mặt anh ta nhăn lại như quả táo khô.
– Đón đi. Tối nay gửi nước lên. Không khỏi thì đừng trách tôi.
Đọng vào lán. Thằng Chũn nằm co dưới tấm chăn chiên, người nóng hầm hập, hai lỗ mũi nhét bông đỏ máu. Mắt nó hé ra khi anh bế nó lên, nhìn anh mà không biết là ai. Nó lẩm bẩm gì đó, hai tay nắm chặt trước ngực, nắm như giữ một con chim.
Anh cõng nó về. Trời đã sáng rõ. Nắng tháng Chín vàng như mật trên rừng lau. Thằng bé nhẹ bỗng trên lưng anh, nhẹ như cái ống tre của nó.
Về tới nhà, bà Mận đã đun sẵn nước, bà Tảo ngồi ở hiên nhặt rau. Đọng đặt thằng Chũn xuống phản, đổ cho nó bát nước chua. Nó nuốt được nửa bát, nôn ra một ít, rồi nuốt tiếp. Bà Mận ngồi cạnh, đặt tay lên trán nó, lẩm nhẩm gì đó, lâu lâu lại sờ cổ tay nó bắt mạch.
Rạng xuống lúc ấy, chạy một mạch từ bậc thứ một nghìn, mặt tái mét. Sáng nay nó thấy năm bìa vân rõ buộc lạt đỏ đặt sẵn ở cổng, không thấy ai, sợ có chuyện. Nghe bà Mận kể, nó ngồi sụp xuống cạnh phản, cầm tay thằng Chũn.
– Mày ngu thế. Mười đồng mà đi vào cái hầm ấy.
Thằng Chũn không nghe thấy. Rạng ngẩng lên nhìn Đọng.
– Chú ơi, sáng nay còn có chuyện lạ. Sư phụ bếp sai cháu mang mâm sáng lên cho tông chủ. Lúc cháu dọn mâm xuống, đĩa đậu còn nguyên. Tông chủ không ăn, chỉ ngồi nhìn năm bìa đậu chú gửi, ngồi từ lúc cháu đặt mâm tới lúc cháu dọn. Lúc cháu bê mâm đi, ngài hỏi cháu một câu. – Rạng nuốt nước bọt. – Ngài hỏi: thằng bé ngủ trong kho nhà bà Tảo đâu, sao sáng nay không thấy nó gánh.
Đọng không biết nói gì. Một người đứng đầu tông môn sáu trăm đệ tử biết cả thằng bé ngủ trong kho nhà anh.
Gần trưa, thằng bé vã mồ hôi, người hạ nhiệt. Nó mở mắt, nhìn thấy Đọng.
– Chú.
– Ừ.
– Em xin lỗi. Em muốn mua cho bà cái áo bông.
– Ừ. Ngủ đi.
Nó không ngủ. Nó cố giơ hai bàn tay vẫn nắm chặt từ sáng tới giờ lên trước mặt anh, rồi mở ra.
Trong lòng bàn tay thằng Chũn là một mảnh đá nhỏ bằng quả trứng cút, màu trắng ngà, mặt nhẵn như sứ. Trên mặt đá có vân. Những đường vân mảnh, nhạt hơn nền đá một chút, tỏa ra như rễ cây.
– Em nhặt trong hầm, – thằng Chũn thì thào. – Chỗ trong cùng, cuốc bổ vào mặt đá, đá mẻ ra mảnh này. Em thấy giống đậu nhà mình. Em giấu đi, mang về cho chú xem.
Đọng cầm mảnh đá lên. Nó ấm. Ấm như bìa đậu vừa ra khuôn.
Bà Mận đưa tay ra. Anh đặt mảnh đá vào tay bà. Bà sờ, ba ngón tay lướt nhẹ trên mặt đá, như lướt trên mặt đậu. Bà sờ rất lâu, lật đi lật lại. Rồi bà đặt nó trở lại tay Đọng, đặt rất nhẹ, như người ta đặt một đứa trẻ sơ sinh vào tay mẹ nó.
– Vân Cốt. – Bà nói. – Không phải lõi. Là lớp vỏ ngoài cùng. Lớp đá đông mấy năm gần đây thôi, đông từ những nồi đậu mẹ nuôi anh với anh điểm mỗi sáng.
– Đông từ nồi đậu nhà cháu?
– Vân trên đá này với vân trên đậu nhà anh là một. Anh nhìn đi.
Đọng nhìn. Bảy nhánh lớn. Cái rốn tròn hơi lệch xuống dưới. Chỉ không có vết chéo.
– Họ chạm tới vỏ rồi, – bà Mận nói. – Từ vỏ vào tới lõi còn bao xa thì tôi không biết. Nhưng không còn ba mươi trượng nữa đâu.
Đọng nắm mảnh đá trong tay. Cái ấm từ mảnh đá truyền vào lòng bàn tay, lên cổ tay, chạy dọc cánh tay. Rồi, không theo đường nào anh biết, nó chạy thẳng xuống bụng dưới, xuống đan điền.
Anh đứng im.
Mười một năm, khí trong đan điền anh loãng như sữa đậu, sáng nào cũng lắng thêm một ít, mà không bao giờ đông. Bây giờ, ngay lúc này, ở chính giữa cái vũng sữa loãng ấy, có một vẩy trắng nhỏ vừa nổi lên. Một vẩy thôi. Mịn. Như vẩy đậu đầu tiên trên mặt nồi lúc anh rót nước cái vào.
Anh buông tay. Mảnh đá rơi xuống phản, lăn một vòng, nằm im.
Vẩy trắng trong đan điền anh dừng lại. Không tan. Không lan. Cứ nằm đó, chờ.
Bà Mận nghe tiếng đá rơi, quay mặt về phía anh.
– Anh vừa thấy gì?
– Nó... – Đọng nói, giọng khàn đi. – Nó vừa làm khí cháu đông.
Bà già im lặng một lúc lâu. Ngoài sân, nắng trưa chiếu xuống miệng giếng, hơi ấm bốc lên lờ mờ như hơi thở.
– Đá ấy là mồi, – bà Mận nói. – Mồi của núi. Mà nó nhận anh.
— Hết chương 10 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe