Chương 9: Nước chấm của con Ngần
– Đường thắng phải tới màu nước trà. Non thì nước chấm lạt, già thì đắng. Má nói vậy.
Ba giờ rưỡi sáng Chủ nhật, con Ngần đứng trên cái ghế đẩu cho đủ cao tới mặt bếp, tay cầm đôi đũa cả khuấy cái nồi gang nhỏ. Trong nồi, mấy muỗng đường cát sôi lăn tăn, chuyển dần từ trắng đục sang vàng, sang nâu nhạt. Con nhỏ nhìn chằm chằm vô nồi đường như nhìn một con rắn, không chớp mắt.
– Rồi! – Nó la lên. – Dì đổ nước mắm vô, lẹ lên, đổ từ từ!
Trà đổ. Nước mắm nhĩ của vựa bà Năm chảy vô nồi đường nóng, xèo lên một tiếng, bốc hơi thơm lừng, cái mùi đậm và ngọt mà cô chưa từng ngửi thấy ở bất cứ chén nước chấm nào ở Sài Gòn.
– Thêm nước dừa. – Con Ngần ra lệnh. – Nửa chén. Rồi tắt lửa, để nguội.
Trong lúc chờ nồi nước chấm nguội, con nhỏ băm xoài. Nó cầm con dao phay to gần bằng cánh tay nó, nhưng băm đều tay, xoài xanh vụn ra như hột gạo. Băm tỏi, băm ớt hiểm. Rồi nó lấy cái cối đá nhỏ, giã đậu phộng rang, không giã nhuyễn, chỉ giã cho bể làm tư.
– Đậu phộng bỏ sau cùng, lúc múc ra chén. Bỏ trước nó mềm, hết giòn. – Con nhỏ nói, rồi liếc Trà. – Ai chỉ dì bỏ đậu phộng? Chị Mỹ hả? Chỉ chị Mỹ là hay lén ra mua. Mà chị Mỹ đâu biết bỏ lúc nào.
Trà gật đầu, giấu nụ cười.
Nồi nước mắm nguội. Con Ngần trộn xoài, tỏi, ớt vô, nêm lại, nhăn mặt, thêm chút đường, nêm lại, gật đầu. Nó múc một muỗng đưa cho Trà.
Trà nếm. Mặn, ngọt, chua, cay, tất cả đứng cạnh nhau mà không giành nhau. Xoài giòn, chua thanh. Cái hậu ngọt của nước dừa kéo dài trên lưỡi.
Đây là cái chén mà cô đi xin từng mảnh suốt hơn một tháng.
– Sao? – Con Ngần hỏi, mặt cố làm ra vẻ không quan tâm, nhưng hai tay thì vặn vặn vạt áo.
– Ngon. – Trà nói. Rồi cô nghĩ một chút. – Nhưng dì muốn thử thêm một cái. Con cho dì thử không?
– Thêm cái gì?
Trà đi ra hiên, lấy trái thơm cô mua ở chợ thị trấn bữa thứ Bảy, gọt vỏ, cắt một khoanh, băm nhuyễn. Cô nhớ mấy món nước chấm ở miền Tây có bỏ thơm, nhớ cái vị chua ngọt có mùi trái cây chín. Cô bỏ một muỗng thơm băm vô một cái chén nước chấm riêng, khuấy, đưa cho con Ngần.
Con nhỏ nếm. Nó nhăn mặt, rồi giãn mặt, rồi nếm lại.
– Lạ. – Nó nói. – Má hổng có bỏ cái này.
– Ừ. Má con không bỏ. Dì bỏ.
Con Ngần nhìn cái chén, nhìn Trà, rồi nếm lần thứ ba.
– Thôi được. – Nó nói, giọng của một bà chủ đang cân nhắc. – Làm hai chén. Một chén của má, một chén của dì. Ai ăn cái nào thì ăn.
Sáng hôm đó, lần đầu tiên con Ngần ra bến cùng Trà.
Con nhỏ ngồi trên một cái ghế đẩu cạnh lò than, trước mặt là hai cái thau nhỏ đựng hai thứ nước chấm, mỗi thau một cái vá. Nó buộc tóc gọn, đội cái nón lá nhỏ của má nó để lại, rộng quá, cứ trễ xuống mắt. Khi ghe đầu tiên cập bến, nó đứng dậy, chống nạnh, và rao lên bằng cái giọng lanh lảnh mà cả xóm đều biết:
– Bánh căn nước chấm má Hảo đây! Dì Mận đổ bánh, con Ngần pha mắm! Bốn cái một ngàn, ăn hổng ngon con trả tiền lại!
Chú Ba Xường đang lững thững đi lên từ bến, nghe câu đó thì đứng khựng lại. Rồi chú phá ra cười, cười tới chảy nước mắt.
– Con nhỏ này! Con nhỏ này giống má nó y chang!
Chú ngồi xuống, ăn tám cái bánh, chấm cả hai chén. Ăn xong, chú không chê nước chấm. Chú chỉ ngồi im một hồi, rồi nói, giọng khác hẳn mọi bữa:
– Chén này đúng rồi đó. Đúng vị con Hảo.
Rồi chú chỉ vô cái chén có thơm.
– Còn chén này lạ. Mà ăn được. Ăn được lắm.
Sáng hôm đó, lần đầu tiên có đàn bà trong xóm dừng lại ở lò than của Trà mà không nhổ nước trầu. Một bà bán cá đi ngang, nghe con Ngần rao, dừng lại hỏi "má Hảo thiệt hả con", rồi ngồi xuống ăn thử. Một bà khác thấy vậy cũng ngồi. Chị Mỹ bầu lần này đi thẳng tới giữa ban ngày, không lấp ló sau gốc dương nữa, mua hai chục cái đem về.
Con Ngần thu tiền. Nó thu tiền như một bà chủ vựa: tay đưa bánh, tay cầm tiền, miệng nói không ngừng.
– Năm ngàn hai chục cái, chị Mỹ lấy hai mươi mốt cái đi, con cho thêm một cái cho em bé trong bụng.
– Chú ơi chú đưa con tờ năm ngàn rách rồi, chú đổi giùm con tờ khác, rách vậy ra chợ người ta hổng lấy.
– Dì Tư ơi, bữa nay dì mua mười cái, mai dì mua mười cái nữa thì con tặng dì chén mắm có thơm, ăn thử cho biết.
Trà đứng sau lò than, đổ bánh, cạy bánh, nghe con nhỏ líu lo, và cô thấy mình đang làm một việc mà cô biết làm.
Bảy giờ sáng, bán hết chín khuôn. Hai mươi bảy ngàn đồng. Con Ngần đếm tiền trên tấm bạt, đếm hai lần, rồi chia ra làm hai xấp.
– Xấp này của dì. Xấp này… – Nó ngập ngừng. – Xấp này của con. Tiền pha nước chấm.
– Bao nhiêu?
– Năm ngàn.
Trà nhìn xấp tiền nhỏ. Rồi cô lấy thêm hai ngàn ở xấp của mình, đặt lên xấp của con Ngần.
– Bảy ngàn. Nước chấm là cái làm nên bánh. Con lấy ít quá.
Con Ngần trố mắt nhìn cô. Rồi nó cầm xấp bảy ngàn, nhét vô túi áo, quay mặt đi chỗ khác. Trà thấy tai nó đỏ ửng.
Thứ Bảy tuần sau đó, cô lên thị trấn trả mười lăm ngàn còn lại cho cô Ba Lựu. Cô Ba gạch một dòng trong cuốn sổ bìa xanh, rồi gấp sổ lại, đặt lên bàn thờ ông Địa, vái ba cái.
– Xong rồi đó. – Bà nói. – Hơn năm trời. Tui mừng cho cô.
Trên đường về, Trà ghé qua dãy sạp đồ gốm ở chợ, mua thêm một cái khuôn bánh căn mới. Khuôn mới màu đỏ cam, lòng khuôn còn sần sùi. Cô phải nuôi nó ba ngày liền mới dám đổ. Con Ngần đặt tên cho hai cái khuôn: cái đen bóng là "khuôn má", cái đỏ cam là "khuôn dì". Khuôn má đổ bánh ngon hơn, ai cũng biết. Nhưng có hai cái khuôn thì đổ được gấp đôi.
Giữa tháng Năm, bà Năm Ngự tới bến.
Bà tới lúc sáu giờ, đi bộ từ vựa ra, mặc bộ bà ba lụa nâu, theo sau là thằng con trai có hàng ria mỏng. Bà không ngồi chồm hổm như đám đàn ông. Thằng con trai mang theo một cái ghế xếp, mở ra, bà ngồi lên đó, ngay cạnh lò than.
– Đổ cho tao một khuôn. Khuôn của con Hảo.
Trà đổ. Bà Năm ăn chậm, mỗi cái bánh chấm một chén khác nhau, nhai kỹ, không nói gì. Ăn xong mười hai cái, bà lấy khăn mùi soa lau miệng.
– Lò mắm của tao có ba chục đứa làm. – Bà nói. – Tụi nó vô ca lúc năm giờ sáng, bụng đói, ra đầu xóm mua xôi, mua bánh mì, trễ giờ hoài. Mầy đổ bánh giao tới lò cho tao, năm giờ rưỡi, mỗi sáng một trăm hai chục cái. Năm cái một ngàn. Tao trả tiền cuối tuần.
Trà tính nhẩm. Một trăm hai chục cái, năm cái một ngàn, là hai mươi bốn ngàn. Bốn cái một ngàn thì là ba mươi ngàn.
– Bốn cái một ngàn, bà Năm. – Cô nói. – Con giao tận lò, đem theo nước chấm, đem theo chén đũa. Con rửa chén luôn.
Bà Năm nhướn mày.
– Tao mua nhiều, mầy hổng bớt?
– Bà mua nhiều thì con phải đổ thêm bốn khuôn, phải dậy sớm hơn một tiếng, phải mướn thêm người xay bột. Con không lời thêm đồng nào. Bà mua bốn cái một ngàn, bà được cái là ba chục người làm của bà vô ca đúng giờ, no bụng, làm hăng. Cái đó bà tính ra tiền được, còn hơn con.
Bà Năm Ngự nhìn cô rất lâu. Thằng con trai có hàng ria mỏng đứng sau lưng bà, khoanh tay, nhếch mép.
– Má, nó nói giọng Sài Gòn mà nó tính như con buôn Chợ Lớn.
Bà Năm không quay lại. Bà vẫn nhìn Trà.
– Mầy còn tám chỉ. – Bà nói, giọng đều đều. – Bán bánh căn tới Tết, mầy được bao nhiêu?
– Chưa đủ, bà Năm.
– Vậy mầy bán làm chi?
Trà nhớ thằng Vẹn đã hỏi đúng câu đó, trong cái bếp tối, cạnh bọc muối hột.
– Vì con trả được thì bà có lợi hơn là bà lấy nhà. – Cô nói. – Bà lấy nhà, bà được cái nền đất. Con trả được, bà được tám chỉ, cộng thêm một đứa đổ bánh cho lò của bà mỗi sáng.
Bà Năm Ngự im lặng. Rồi bà đứng dậy, phủi vạt áo.
– Tao lấy nhà thì tao có chỗ làm sân phơi. – Bà nói. – Nhưng thôi, bốn cái một ngàn. Mai giao.
Bà đi về phía vựa. Thằng con trai xếp ghế lại, đi theo, ngoái đầu nhìn Trà một cái, cái nhìn không có ác ý, chỉ có tò mò.
Con Ngần chờ cho hai người đi khuất, rồi mới thở phào, ngồi phịch xuống tấm bạt.
– Dì liều quá. – Nó nói. – Bà Năm mà giận là bả hổng mua luôn.
– Bà Năm không giận vì người ta tính đúng. – Trà nói. – Bà Năm giận vì người ta tính sai.
Từ hôm đó, Trà dậy lúc hai giờ rưỡi. Bà Chín giới thiệu cho cô một chị ở xóm Đầm, chị Sương, mỗi chiều qua xay bột phụ, cô trả năm ngàn một buổi. Ngày nào cũng hai lò than, hai cái khuôn, gần hai trăm cái bánh. Lon sữa bò không đủ chỗ nữa, cô đổi sang cái hũ sành có nắp.
Cuối tháng Năm, trường cho nghỉ hè. Con Ngần mừng rơn vì được ra bến cả buổi. Thằng Vẹn thì không nghỉ. Lớp chín phải ở lại ôn thi tuyển, sáng nào cũng lên trường. Tối nào nó cũng ngồi dưới ngọn đèn dầu làm toán. Có điều, mấy tuần đó, Trà để ý thấy nó ngủ gục trên tập vở nhiều hơn.
Chiều ngày mười lăm tháng Sáu, Trà đang ngâm gạo ở hiên thì có một người đàn ông dắt xe đạp vô sân. Anh ta chừng ba mươi, đeo kính cận gọng nhựa, mặc áo sơ mi bỏ vô quần tây, tay xách cái cặp da sờn mép.
– Chị là phụ huynh em Lương Văn Vẹn phải không chị? Tôi là Cường, dạy toán lớp chín, phụ trách lớp ôn thi tuyển. – Anh ta ngừng lại, có vẻ khó nói. – Em Vẹn vắng năm buổi ôn liền rồi chị. Không xin phép. Em ấy là học trò giỏi toán nhất khối. Nếu tuần này em ấy còn vắng, tôi phải gạch tên em ấy khỏi danh sách dự thi của trường.
Trà đứng dậy. Hai tay cô còn ướt nước vo gạo.
– Năm buổi? Sáng nào nó cũng đi mà thầy.
Sau lưng cô, con Ngần đang ngồi lựa đậu phộng, buông rơi cái rổ.
– Ảnh hổng có lên trường đâu dì. – Con nhỏ nói nhỏ, mặt tái đi. – Ảnh đi ghe với dượng Hai. Mấy đêm nay ảnh đi đêm, sáng về ảnh ngủ ngoài chòi lưới.
— Hết chương 9 —

⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe