Chương 20: Mồng Một ở Gành Ráng
Tiếng tù và đầu tiên của năm Kỷ Mão vang lên lúc sáu giờ sáng mồng Một, từ trên gành đá đỏ.
Thằng Còng đứng ở tầng đá thứ ba, chỗ an toàn, ông Mạnh đứng sát sau lưng nó, một tay đặt trên vai con. Thằng nhỏ mặc bộ đồ mới màu xanh dương, cái vỏ ốc giơ lên môi, má phồng lên, thổi bằng bụng như anh nó dạy. Tiếng u u trầm và dài bay ra khỏi gành, lan trên mặt biển còn mờ sương, lan vô xóm. Trong xóm, mấy cánh cửa mở ra. Có người đứng ở hiên ngó lên gành. Có tiếng ai đó la: "Thằng Còng nhà Tư Mạnh thổi tù và chúc Tết kìa!"
Đó là ý của thằng Còng. Tối giao thừa, nó nói với cả nhà, chậm rãi, từng chữ: "Mồng Một con thổi ốc. Cho ông ngoại nghe. Cho má nghe. Cho dượng Hai nghe."
Trà đứng dưới chân gành với con Ngần với thằng Vẹn. Con Ngần mặc cái áo dài nhỏ màu hồng, quà Tết của dì Hai Thơm may cho. Hai bên tai nó lấp lánh đôi bông tai hình giọt nước có chạm bông mai. Đây là lần đầu tiên nó đeo. Sáng nay, trước khi ra gành, nó đứng trước cái gương tròn viền nhựa đỏ trên cột nhà rất lâu, nghiêng đầu bên này, nghiêng đầu bên kia, rồi quay lại hỏi Trà: "Giống má hông dì?" Trà nói giống. Con nhỏ cười, rồi khóc, rồi lại cười.
Sau khi thằng Còng thổi xong, cả nhà về. Ông Mạnh lì xì mỗi đứa một bao đỏ. Dì Hai Thơm với dượng Hai Cẩn qua chúc Tết, đem theo một đòn bánh tét nhân chuối, một khay chả cá dì Hai tự quết. Bà Chín qua, ngồi trên tấm phản, nhai trầu, chê bánh tét năm nay gói lỏng tay. Thằng Lộc đem tới một chai mắm nhĩ nửa lít, chai đầu tiên của lô mắm chai, nút bấc bọc nilon, cổ chai cột sợi lác, kẹp một miếng bìa nhỏ có chữ con Ngần viết tay. Bà Năm gửi lời, nói chai đầu tiên phải đem tới nhà con Mận.
Gần trưa, khi khách đã về hết, thằng Vẹn gọi Trà ra sau bếp.
Trên cái kệ, chỗ cái khuôn dì đỏ cam bị tấm tôn đập vỡ hồi bão, có một cái khuôn mới. Đất nung màu nâu đỏ, mười hai cái lỗ tròn đều, cái nắp có quai.
– Con với dượng Hai lên lò gốm ở bên kia đầm đặt. – Thằng Vẹn nói, mắt nhìn cái khuôn, không nhìn cô. – Tiền đi ghe hồi tháng Sáu. Dì cất riêng cho con đó. Con lấy ra.
Trà nhấc cái khuôn lên, lật ngửa. Dưới đáy khuôn, có mấy chữ khắc vô đất lúc đất còn ướt, trước khi đem nung, nét chữ học trò nghiêng nghiêng, to, đậm, nắn nót, giống hệt nét chữ trên cái phong bì "Gửi ba" năm nào:
"Khuôn dì. Mồng Một Tết Kỷ Mão."
Trà cầm cái khuôn một lúc. Cô không nói được gì.
– Dì. – Thằng Vẹn nói. Giọng nó nhỏ, gượng gạo, như đang học nói một câu bằng thứ tiếng mới. – Con chúc dì… năm mới mạnh khỏe. Dì ở lại với tụi con hoài nghen dì.
Nó nói xong thì quay đi liền, đi thẳng ra sân, như sợ cô trả lời.
Trà đứng một mình trong gian bếp, ôm cái khuôn mới vô ngực. Cô không trả lời. Cô không biết trả lời làm sao. Từ đêm đưa ông Táo tới giờ, mỗi lần cô áp cái vỏ ốc lên tai, tiếng chuông điện thoại lại reo, lần sau rõ hơn lần trước.
Tối mồng Một, nhà Tư Mạnh ăn cơm sớm. Ba đứa nhỏ mệt vì đi chúc Tết cả ngày, ngủ sớm. Thằng Còng nằm ở góc giường bên kia, ôm cái vỏ ốc. Con Ngần ngủ quên, còn đeo đôi bông tai. Thằng Vẹn ngủ ngoài hiên, cây bút máy kẹp trên túi áo. Ông Mạnh ngồi ở bậc thềm hút thuốc, nhìn ra biển.
Trà nằm trong mùng, không ngủ. Cô nghe sóng. Cô đếm, như cái đêm đầu tiên.
Gần nửa đêm, cô ngồi dậy, vén mùng, đi tới góc giường bên kia. Thằng Còng ngủ say, cái vỏ ốc nằm cạnh má nó. Cô cầm cái vỏ ốc lên, thật nhẹ, ghé miệng vô.
Lần này cô không nói với thằng Còng. Không nói với Hảo.
– Mận. – Cô thì thầm. – Em không biết chị đang ở đâu. Em không biết chị có nghe được không. Em trả lại nhà cho chị. Nhà còn đó. Tụi nhỏ thương chị rồi. Chị có quên cái gì, tụi nó dạy lại chị.
Cô đặt cái vỏ ốc về chỗ cũ, cạnh má thằng Còng. Rồi cô quay về giường, nằm xuống, kéo tấm mền mỏng lên tới cằm.
Tiếng chuông điện thoại reo. Lần này không phải từ trong vỏ ốc. Nó reo ngay bên tai cô.
Cô mở mắt ra, và trần nhà màu trắng.
Không có mái tôn. Không có mùng. Có một cái đèn huỳnh quang dài, một tấm rèm xanh nhạt, một cái giá sắt treo bình nước biển, một sợi dây trong suốt chạy xuống cổ tay cô. Có tiếng máy lạnh rì rì. Có mùi thuốc sát trùng.
Cô đưa tay lên mặt. Bàn tay dài, trắng, mấy ngón tay có vết chai của cây phới đánh trứng. Bàn tay của cô.
Cái điện thoại trên cái tủ đầu giường vẫn reo, rung lạch cạch trên mặt gỗ. Màn hình sáng lên: "Dì Thục".
Rồi một bàn tay khác vươn tới, cầm cái điện thoại lên, tắt chuông. Một bàn tay nhỏ, gầy, nổi gân xanh, ngón tay áp út có một chiếc nhẫn bạc mòn vẹt.
– Con tỉnh rồi hả?
Trà quay đầu. Trên cái ghế nhựa sát giường, một người đàn bà chừng năm mươi lăm, người nhỏ thó, tóc đã bạc nhiều, mặc cái áo bà ba màu nâu đã nhàu nhĩ như người ngồi đó mấy ngày không thay. Dưới chân ghế là một cái giỏ đệm, lòi ra một cái hũ thủy tinh đựng củ kiệu.
Dì Thục.
– Dì gọi cho con hoài mà con hổng bắt. – Dì nói, giọng miền Tây kéo dài, run run. – Bệnh viện ngoài này gọi dì, nói con té biển ở cái xóm nào đó, nằm ba bữa rồi. Hổng biết sao trong máy con vẫn để số dì là người nhà. Dì đi xe đò ra liền.
Dì giơ cái điện thoại lên.
– Dì gọi máy con, để coi nó còn reo hông. Mấy bữa nay dì gọi hoài, nghe nó reo thì dì biết con còn đó.
Trà nhìn dì Thục. Hai mươi bốn năm. Cái lon sữa đặc với sợi dây cước. Chiếc nhẫn của má. Tám cái Tết không về.
Cô đưa tay ra, nắm lấy bàn tay nhỏ nổi gân xanh đó. Bàn tay dì Thục giật nhẹ, như không quen, rồi nằm yên trong tay cô.
– Dì. – Trà nói. Giọng cô khàn khàn, như cái máy lâu ngày không chạy.
Bốn ngày sau, Trà dắt dì Thục tới xóm Gành Ráng. Ba giờ chiều.
Cánh cửa gỗ sơn xanh đã mở. Cái vỏ ốc rất lớn, màu nâu lốm đốm, đầu nhọn có khoan lỗ, vẫn treo trên cánh cửa, buộc bằng một sợi dây dù đã bạc màu.
Trong quán có sáu cái bàn gỗ, mấy cái lò than đặt dọc vách, trên mỗi lò là một cái khuôn đất nung. Trà nhìn thấy một cái khuôn đen bóng như than. Bên cạnh là một cái khuôn màu nâu đỏ đã sậm lại theo năm tháng.
Người chủ quán ra đón là một người đàn bà gần bốn mươi, tóc cột cao, giọng lanh lảnh. Hai bên tai chị lấp lánh đôi bông tai hình giọt nước.
– Cô với chị ăn mấy khuôn? Nước chấm có hai chén nghen, một chén của má tui, một chén có thơm của dì tui. Ăn hổng ngon tui trả tiền lại.
Trà ngồi xuống. Cô không nói được gì một lúc lâu.
Ngoài bến, có một người đàn ông chừng ba mươi mấy đang cúi xuống sửa máy một chiếc ghe, bàn tay đen nhẻm dầu nhớt. Trong góc quán, một người đàn bà gần sáu mươi, tóc bới, ngồi trên cái ghế đẩu thấp lặt rau răm, có một nốt ruồi nhỏ ở đuôi chân mày bên trái.
Người đàn bà đó ngẩng lên, nhìn Trà. Nhìn lâu.
– Cô ở Sài Gòn ra hả? – Bà hỏi, giọng chậm, giọng biển miền Trung. – Nghe cô nói, giống giọng một người quen.
Trà gật đầu. Cô không tin giọng mình.
Người chủ quán phá ra cười, vừa trở bánh vừa nói vọng qua:
– Dì tui hay nói vậy với khách Sài Gòn lắm chị. Năm chín tám dì tui té biển ngoài gành, dậy cái nói giọng Sài Gòn suốt một năm, cả xóm tưởng dì mát dây. Vậy mà năm đó dì đổ bánh, dì trả nợ, dì giữ được cái nhà. Qua Tết năm sau, dì nói giọng xứ mình lại, mà quên sạch cách đổ bánh, quên luôn cách pha chén có thơm. Ba anh em tui phải dạy lại dì từ đầu, từ cách nuôi khuôn. – Chị lật một cái bánh ra dĩa, cười tít mắt. – Mà hồi đó tụi tui thương dì rồi. Hết đường ghét.
Người đàn bà trong góc không nói gì. Bà cúi xuống nắm rau răm, ngón tay lặt chậm rãi, từng cọng một.
Cái khuôn nâu đỏ trên lò vừa đổ xong mẻ. Người chủ quán nhấc nó xuống, lật ngửa, đặt lên cái mẹt cho nguội bớt trước khi tráng dầu lại. Dưới đáy khuôn, đất đã đen sạm khói, nhưng vẫn còn đọc được mấy nét chữ học trò khắc sâu, nghiêng nghiêng: "Khuôn dì".
– Khuôn đó anh Hai tui khắc chữ đó chị. – Chị nói, thấy Trà nhìn. – Ảnh giờ dạy toán trên trường cấp ba thị trấn, học trò sợ ảnh một phép. Khuôn này hai mươi mấy năm rồi, chưa nứt một đường.
Người chủ quán đặt hai dĩa bánh căn xuống bàn, nóng hổi, vàng đáy, mặt rỗ tổ ong. Hai chén nước chấm. Trà đẩy cái chén có thơm sang trước mặt dì Thục.
– Dì ăn thử chén này. – Cô nói. – Con học pha từ hồi… lâu lắm rồi.
Dì Thục chấm một cái bánh, bỏ vô miệng, nhai. Rồi dì gật gù, cái gật gù của người miền Tây nếm món lạ mà ngon.
– Ngon. – Dì nói. – Mà con pha hồi nào dì đâu có biết.
Ngoài bến, người đàn ông sửa máy ghe đứng dậy, chùi tay vô quần, đi tới cánh cửa sơn xanh, nhấc cái vỏ ốc xuống. Anh ta đưa nó lên môi, thổi một hơi dài, như người ta vẫn thổi vào mỗi buổi chiều quán mở cửa. Tiếng u u trầm và dài bay ra mặt biển.
Người đàn bà có nốt ruồi ở đuôi chân mày đặt nắm rau răm xuống, nhìn ra biển, rồi nhìn lại Trà, và cười, một cái cười rất chậm, như người vừa nhớ ra một chuyện cũ.
— Hết —

⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe