Chương 12: Cá cơm rim ở ngã ba quốc lộ
– Cô bán cái gì? Cá cơm hả? Cá cơm thì xứ này ai mà hổng có. Đem về.
Chú Sáu Tờ nói câu đó mà không thèm ngẩng lên khỏi cái chảo. Chú đang xào một chảo rau muống to bằng cái nia, lửa than reo phì phì, khói bốc lên mù mịt cả gian bếp. Quán cơm của chú nằm ngay ngã ba, chỗ con đường đất đỏ từ mấy xóm biển đâm ra quốc lộ, là một dãy nhà lá dài, mái thấp, dưới mái kê sáu cái bàn gỗ dài với mấy chục cái ghế đẩu. Trước quán có một bãi đất trống rộng, đủ cho ba chiếc xe đò đậu một lượt.
Trà đứng ở cửa bếp, tay xách cái giỏ đệm.
– Không phải cá cơm khô, chú Sáu. Cá cơm rim. Chú ăn thử một miếng.
– Tui ăn cá cơm từ hồi mới mọc răng. – Chú Sáu đổ chảo rau ra cái đĩa bàn, gõ cái vá vô miệng chảo lách cách. – Rim với hổng rim gì cũng là cá cơm.
Trà không đi. Cô lấy trong giỏ ra một cái hũ thủy tinh nhỏ, mở nắp, dùng đôi đũa gắp một nhúm cá đặt lên cái nắp hũ, chìa ra.
Những con cá cơm nhỏ bằng nửa ngón tay, đã được chiên giòn rồi rim trong nước đường thắng với nước mắm, tỏi phi, ớt bột, cuối cùng rắc mè rang lên trên. Mỗi con cá óng lên một lớp màu nâu đỏ như hổ phách, giòn tan, ngọt trước cay sau, mùi mè rang thơm lừng.
Chú Sáu Tờ liếc qua. Rồi chú lau tay vô cái khăn vắt trên vai, cầm một con cá bỏ vô miệng, nhai.
Chú nhai lâu. Rồi chú cầm thêm con thứ hai.
– Cái này ăn với cơm trắng thì được. – Chú nói, giọng không đổi. – Mà ai mua?
– Người đi xe đò.
Chú Sáu Tờ ngẩng lên lần đầu tiên, nhìn cô như nhìn một con nhỏ khờ.
– Người đi xe đò ghé đây ăn cơm, đi tiểu, rồi lên xe đi tiếp. Họ mua cá cơm của cô làm gì?
Trà đã ngồi ở cái quán này ba buổi trưa liền, uống ly trà đá năm trăm đồng, để coi. Cô đã thấy mỗi chiếc xe đò dừng lại chừng bốn mươi phút. Cô đã thấy hành khách xuống xe, mặt mày bơ phờ, ăn vội đĩa cơm, rồi đi lòng vòng quanh bãi đất. Cô đã thấy họ mua gì: mấy bịch bánh tráng mè, mấy gói đậu phộng da cá, mấy chai nước mắm nhỏ của mấy bà bán dạo ôm thúng chạy theo xe. Họ mua làm quà. Ai đi xa về quê cũng phải có cái gì đó cầm tay.
– Họ mua làm quà, chú Sáu. – Cô nói. – Người ở Sài Gòn về quê ăn đám giỗ, người ở quê vô Sài Gòn thăm con. Ai cũng muốn cầm theo một món của xứ biển. Nước mắm thì nặng, dễ bể, mùi nồng, lên xe người ta la. Cá khô thì tanh. Còn cái này, khô, nhẹ, không tanh, để được cả tháng, mở ra ăn với cơm liền.
Chú Sáu Tờ im lặng. Ngoài kia, có tiếng còi xe đò kéo dài, tiếng lơ xe hô "Ghé quán cơm, bốn chục phút nghen bà con!"
– Cô muốn gì?
– Chú cho em để một rổ trên quầy tính tiền của chú. Bán được bao nhiêu, em chia chú một phần mười.
Chú Sáu nhìn cô thêm một lúc. Rồi chú hất cằm về phía cái quầy gỗ ở đầu dãy bàn.
– Để đó. Bán hổng được thì cuối tuần đem về. Đừng có để nó lấn chỗ của tui.
Trà bắt tay làm thử từ cuối tháng Bảy, ngay khi cầm tiền vay về, mất gần hai tuần mới làm ra được món cá cơm rim vừa ý.
Cái khó không phải là công thức. Cô đã làm món này ở Sài Gòn, cho mấy khách đặt quà Tết. Cái khó là không có gì giống như ở Sài Gòn. Không có máy hàn miệng túi, không có túi zip, không có giấy hút dầu, không có tủ mát. Cá phải chiên bằng chảo gang trên bếp củi, lửa lúc to lúc nhỏ. Đường thắng phải canh bằng mắt, không có nhiệt kế. Rim xong, cá phải để thật nguội, thật khô, nếu không sẽ hút ẩm, mềm nhũn sau hai ngày.
Cá cơm cô mua của vựa bà Năm. Mùa cá cơm sắp hết, vựa còn dư mấy chục ký cá cơm khô loại nhỏ, con không đều, bán không được giá. Bà Năm bán cho cô với giá rẻ một nửa. Lúc cân cá, bà hỏi làm gì, Trà nói thật. Bà Năm nghe xong, không nói gì, chỉ cho cô thêm một ký.
Còn bao bì, Trà nghĩ ra một cách mà cô nhớ mang máng đã thấy ở đâu đó hồi còn nhỏ: mua bao nilon trong ở chợ thị trấn, cắt ra thành từng cái nhỏ vừa một trăm gam. Đổ cá vô, xếp miệng bao lại hai lần, kẹp giữa hai thanh nẹp sắt mỏng, rồi hơ cái lưỡi cưa sắt lên ngọn đèn cầy cho nóng, áp lên mép bao. Nilon chảy ra, dính lại thành một đường hàn thẳng tắp.
Lần đầu, cô làm cháy thủng ba cái bao. Lần thứ hai, đường hàn bị hở một góc. Lần thứ mười, thằng Vẹn ngồi coi, giành lấy cái lưỡi cưa, hơ lửa, áp xuống một cái, đều tăm tắp.
– Phải đếm. – Nó nói. – Một, hai, ba, nhấc lên. Dì đếm tới năm là cháy.
Từ đó, khâu hàn bao là của thằng Vẹn. Nó còn nghỉ hè trước khi lên lớp mười, ngày nào cũng ngồi ở hiên, trước mặt là ngọn đèn cầy, hơ lưỡi cưa, đếm một hai ba, nhấc lên, như một cái máy. Con Ngần cân cá bằng cái cân đồng hồ mượn của bà Chín, mỗi bao đúng một trăm gam, dư một nhúm thì bốc ra, thiếu một nhúm thì bốc vô. Thằng Còng ngồi lựa những con cá gãy đầu, gãy đuôi bỏ ra một cái chén riêng. Lựa xong, nó ăn luôn cái chén đó.
Mỗi bao được bọc thêm một miếng lá chuối hơ lửa cho dẻo, cột lại bằng sợi lác. Con Ngần muốn viết chữ lên bao, nhưng nhà không có giấy in, cuối cùng nó lấy cây bút lông viết tay lên từng miếng giấy bìa cắt nhỏ, kẹp vô sợi lác: "Cá cơm rim Gành Ráng". Mỗi miếng giấy nó viết một kiểu, có miếng vẽ thêm con cá, có miếng vẽ thêm cái mặt cười.
Tuần đầu tiên, rổ cá cơm trên quầy của chú Sáu Tờ bán được bốn bao.
Trà ngồi ở quán coi. Cô thấy hành khách đi ngang cái rổ, liếc, rồi đi qua. Một bao cá cơm, năm ngàn đồng, ngang với một đĩa cơm. Người ta không mua thứ mình chưa từng ăn.
Tuần thứ hai, cô đổi cách. Cô đứng ở bãi đất trống, chỗ xe đò đậu, cầm một cái dĩa nhỏ đựng cá cơm rim, kèm một rổ bánh tráng nướng bẻ thành từng miếng. Ai đi ngang, cô mời: "Cô ơi, chú ơi, ăn thử miếng cá cơm rim với bánh tráng cho đỡ say xe." Mấy bà xuống xe, mặt tái xanh vì say xe, cầm miếng bánh tráng chấm cá, nhai. Có bà nhai xong thì đi thẳng vô quán mua liền ba bao.
Nhưng cái làm thay đổi mọi thứ là mấy anh lơ xe.
Cô để ý thấy lơ xe là người quyết định nhiều thứ trên một chuyến xe đò: dừng ở quán nào, dừng bao lâu, ai ngồi ghế nào. Hành khách tin lơ xe hơn tin bất cứ ai. Một buổi trưa, cô mang một dĩa cá cơm rim với một rổ cơm nắm ra cái bàn nơi mấy anh lơ xe ngồi ăn riêng, đặt xuống, không nói gì, rồi đi. Hôm sau, cô mang tiếp. Ngày thứ ba, một anh lơ xe tuyến Sài Gòn chừng ba mươi tuổi, mặt rỗ, đi tới chỗ cô.
– Cá cơm này của cô hả?
– Dạ.
– Bán sỉ không? Tui lấy năm chục bao. Má tui ở Sài Gòn mê món này, mà bà con xóm tui cũng mê.
Từ đó, mỗi chuyến xe đò ghé quán chú Sáu Tờ, anh lơ xe đó lại đứng trên bậc cửa xe, hô với hành khách: "Bà con ghé mua cá cơm rim Gành Ráng làm quà nghen, ngon số một miền Trung!" Hành khách xuống xe, đi thẳng tới cái rổ trên quầy của chú Sáu. Có những chuyến, rổ cá cơm hết sạch trong mười phút.
Cuối tháng Tám, rổ trên quầy chú Sáu Tờ đã thành hai rổ, rồi ba rổ. Chú Sáu không còn nói "đừng lấn chỗ của tui" nữa. Chú dọn bớt mấy chai xì dầu, đóng thêm một cái kệ gỗ nhỏ bên cạnh quầy, đặt mấy rổ cá cơm lên đó. Một trưa, Trà thấy chú đứng sau quầy, tự rao với một bà khách đang lưỡng lự: "Mua đi bà, cá cơm của con nhỏ ở Gành Ráng, tui ăn rồi, ngon thiệt."
Tối ba mươi mốt tháng Tám, Trà ngồi trên tấm phản, đổ hết tiền trong cái hũ sành ra đếm.
Tiền bánh căn, tiền cá cơm rim, trừ hết vốn liếng, trừ tiền gạo, tiền học cho thằng Vẹn lên lớp mười, tiền trả chị Sương xay bột, tiền góp lãi vay vốn hội phụ nữ. Còn lại một triệu không trăm hai chục ngàn. Năm trăm ngàn vốn vay cô không tính vô, cô coi đó là tiền của người ta, đang nằm trong mấy chục ký cá cơm khô và mấy xấp bao nilon.
Một triệu không trăm hai chục ngàn. Hơn hai chỉ vàng.
Thằng Vẹn ngồi bên cạnh, cầm cây bút máy cô Bảy Thắm tặng, tính trên một tờ giấy nháp.
– Còn năm tháng nữa là tới hai mươi ba tháng Chạp. – Nó nói. – Riêng tháng Tám dì để ra được bốn trăm mốt. Nếu tháng nào cũng được như tháng này, tới đó dì có thêm chừng bốn chỉ rưỡi. Cộng với hai chỉ là sáu chỉ rưỡi. Còn thiếu một chỉ rưỡi.
Trà nhìn những con số trên tờ giấy nháp. Lần đầu tiên từ cái đêm bà Năm Ngự giơ tờ giấy nợ trước ngọn đèn dầu, khoảng cách giữa cô và tám chỉ vàng là một con số mà người ta có thể nhìn thẳng vô.
– Mùa cá cơm sắp hết. – Cô nói. – Tháng Mười, tháng Mười Một mưa bão, xe đò ít. Mình đừng tính tháng nào cũng như tháng này.
Thằng Vẹn gật đầu, gạch bớt một dòng.
Sáng hôm sau, Trà lên thị trấn, đổi chín trăm hai chục ngàn thành hai chỉ vàng ở tiệm cô Ba Lựu. Cô Ba gói hai chỉ vàng trong một mảnh giấy đỏ, đưa cho cô, cười khoe chiếc răng vàng.
– Lần này là chuộc cái gì nữa đây?
– Chuộc cái nhà, chị Ba.
Về tới nhà thì đã quá trưa. Con Ngần đang ngồi cân cá ở hiên một mình.
– Thằng Còng đâu con?
– Dì Hai qua dắt đi rồi. Hồi sáng. – Con nhỏ ngẩng lên. – Dì Hai nói dắt nó đi chợ. Con tưởng dì biết.
Trà không biết. Cô đứng ở hiên, nhìn ra con đường đất dẫn ra đầu xóm. Nắng trưa đổ xuống trắng lóa.
Thằng Còng về lúc chạng vạng, một mình, đi bộ từ đầu xóm vô. Cái vỏ ốc kẹp dưới nách, còn hai tay nó ôm một cái lồng đèn ông sao năm cánh, giấy kiếng đỏ, khung tre còn mới, đuôi tua bằng giấy kim tuyến vàng óng ánh.
Nó đi thẳng tới trước mặt Trà, giơ cái lồng đèn lên cho cô coi. Rồi nó lấy trong túi quần ra một mảnh giấy gấp tư, đưa cho cô.
Trà mở ra. Chữ viết bằng bút bi, nghiêng, nét nhỏ, gọn gàng:
"Rằm tháng Tám, tui rước thằng Còng qua bên tui ăn Trung thu, ở lại luôn ba ngày. Đèn này tui làm cho nó. Thơm."
— Hết chương 12 —

⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe