Chương 2: Cái khuôn đất mười hai lỗ
Cái bếp không chịu cháy.
Bốn giờ rưỡi sáng Chủ nhật, Trà ngồi chồm hổm trước ba ông táo bằng đất, tay cầm hộp quẹt, chung quanh là một đống lá dương khô và mấy khúc củi bạch đàn to cỡ cổ tay. Cô đã quẹt hết mười một que diêm. Lá dương bén lửa phừng lên, cháy rần rần chừng năm giây, tắt ngấm, để lại một lớp tro đen và khói. Khói trắng bò lên mái tranh, chui vô mắt cô, cay xè.
Ở Sài Gòn, cô có một cái bếp từ đôi và một cái lò nướng đối lưu. Cô biết chỉnh nhiệt từng độ cho bánh su kem. Cô không biết làm sao để một khúc củi cháy.
– Bả xếp củi nằm chèo queo vậy sao nó cháy.
Con Ngần đứng ở cửa bếp, tóc rối bù, mắt còn díp lại, mặc cái áo thun in hình con mèo đã phai gần hết.
– Vậy chỉ dì đi. – Trà nói.
– Chỉ thì được. – Con nhỏ ngáp một cái thật dài. – Mà một câu năm trăm.
– Năm trăm gì?
– Năm trăm đồng. Bả hổng nhớ gì hết thì bả phải trả tiền học. Hồi trước bả nói tui đó, cái gì cũng có giá.
Trà nhìn con nhỏ. Con nhỏ nhìn lại, không chớp mắt, cái cằm hất lên. Trà suýt bật cười.
– Được. Ghi sổ.
– Sổ đâu?
– Trong đầu con.
Con Ngần nheo mắt, như đang tính xem cái này có lợi hay thiệt, rồi ngồi xuống bên cạnh cô, gom củi lại. Nó dựng ba khúc củi chụm đầu vô nhau như cái chóp nón, nhét một nắm lá dương với mấy cọng rơm ở dưới, chừa một cái lỗ hở ở phía có gió lùa vô từ khe vách.
– Lửa nó cần thở. Bả đè nó vậy nó chết ngạt. – Con nhỏ quẹt diêm, châm vô nắm rơm, cúi xuống thổi phù phù ba cái. Lửa liếm lên chân củi, bén, lách tách. – Năm trăm. Câu thứ hai bả còn chưa hỏi.
– Câu thứ hai. – Trà nói. – Gạo để ở đâu?
Đến khi nồi cơm sôi, Trà đã nợ con Ngần ba ngàn rưỡi. Cô biết gạo đựng trong cái khạp da bò ở góc buồng, nước mắm thì xin của vựa bà Năm mỗi tuần một can nhỏ vì Mận có phơi cá cho vựa, thằng Vẹn học lớp chín ở trường cấp hai xã, buổi sáng, con Ngần học lớp bốn, buổi chiều, thằng Còng ở nhà, ai đi đâu thì nó theo đó, hoặc qua bên bà Chín ngồi. Cô cũng biết, vì con Ngần nói mà không lấy tiền, rằng hồi trước "bả" hay đi thị trấn, tuần nào cũng đi, đi một mình, về thì mặt lầm lì không nói với ai.
– Đi thị trấn làm gì?
– Ai mà biết. – Con Ngần nhún vai. – Người ta nói bả đi đánh đề.
Nó nói câu đó nhẹ như nói trời sắp mưa, rồi đứng dậy đi ra giếng múc nước rửa mặt.
Trà ngồi lại trước bếp lửa. Củi bạch đàn cháy có mùi hăng hắc, giống mùi dầu gió. Cô nghĩ về người đàn bà có nốt ruồi ở đuôi chân mày, người tuần nào cũng đi thị trấn một mình, về thì không nói với ai. Mận. Cô không biết gì về người đó, ngoài cái mặt trong gương và hai mươi hai ngàn đồng trong lon sữa bò.
Sáng thứ Hai, Trà theo đám đàn bà trong xóm ra vựa cá của bà Năm Ngự ở cuối xóm.
Vựa là một khoảng sân xi măng rộng cỡ hai sân bóng chuyền, nằm sát mé đầm, sau lưng có một dãy nhà gạch dài lợp ngói, trong đó là những cái thùng gỗ ủ nước mắm cao quá đầu người. Mùi cá, mùi muối, mùi chượp xộc lên dày đặc tới mức Trà phải thở bằng miệng. Đàn bà ngồi thành hàng trên những cái ghế đẩu thấp, trước mặt là những rổ cá cơm vừa luộc xong còn bốc hơi, họ nhặt, rải lên những tấm vỉ lưới. Ai cũng đội nón, khăn rằn trùm kín mặt chỉ chừa đôi mắt.
Cô vừa ngồi xuống thì nghe xì xào lan dọc hàng ghế như gió lùa qua đám cỏ.
– Nó tới kìa.
– Bữa kia mới chết hụt mà đi làm liền, ham tiền dữ.
– Ham tiền thì phải rồi. Chồng gửi về bao nhiêu nó nướng hết ở thị trấn.
– Con Hảo mất chưa đầy năm mà nó đã bước vô nhà. Nhang khói còn chưa nguội.
Không ai nói thẳng vô mặt cô. Họ nói với nhau, đủ lớn cho cô nghe. Trà cúi xuống rổ cá, nhặt. Tay cô chậm, vụng, làm rơi cá xuống nền xi măng, làm mấy con cá cơm gãy đầu. Chị ngồi kế bên, một người chừng ba mươi, mặt rỗ hoa, nhích ghế ra xa.
Tới trưa, cô được trả bảy ngàn đồng. Người phát tiền là một thằng con trai cỡ ba mươi, có hàng ria mỏng, nó đếm tiền chậm rãi, liếm ngón tay, đặt từng tờ vô bàn tay cô.
– Bữa nay chị làm hư ba vỉ. Má tui nói trừ.
Trà cầm bảy ngàn đồng đi về dọc theo mé đầm. Nắng trưa tháng Ba đã gắt, cát dưới chân nóng hổi. Cô tính nhẩm. Bảy ngàn một ngày, ba mươi ngày là hai trăm mười ngàn. Một chỉ vàng, theo lời bà Chín, là bốn trăm sáu chục ngàn. Tám chỉ. Không tính ăn, không tính học phí, không tính dầu hôi, cô phải nhặt cá gần một năm rưỡi.
Cô dừng lại dưới một gốc dương. Gió đầm thổi qua, mang theo mùi rong. Ở đầu kia của mé đầm, có mấy cái nhà sàn thấp lè tè, mấy cái chòi canh nò. Bà Chín nói Mận là người ở bên đó lên, "đồ ở đầm", như thể đó là một cái tội.
Đằng sau lưng cô có tiếng sột soạt. Cô quay lại.
Thằng Còng. Nó đã đi theo cô từ vựa về, cách chừng mười bước chân, ở trần, đi chân đất, hai tay ôm cái vỏ ốc. Thấy cô quay lại, nó dừng. Cô bước một bước về phía nó, nó lùi một bước.
– Được rồi. – Trà nói. – Dì không lại. Em đi theo thì đi.
Cô đi tiếp. Nó đi tiếp. Khoảng cách mười bước chân giữ nguyên tới tận cửa nhà.
Chiều đó, đi tìm củi trên gác bếp, Trà đụng phải một cái bọc bao bố.
Nó nằm ở góc trong cùng, sau mấy cái nồi đất bể, phủ một lớp bụi muội dày. Cô kéo xuống, nặng tay. Mở ra. Bên trong là một cái khuôn đất nung tròn, to cỡ cái mâm nhỏ, mặt khuôn có mười hai cái lỗ tròn đều tăm tắp, mỗi lỗ cỡ cái chén uống trà. Lòng khuôn đen bóng, láng như được đánh bằng dầu. Kèm theo là một cái nắp đất nung có quai, mấy cái nắp con, và một cái que tre đầu bẹt mòn vẹt.
Trà biết đó là cái gì. Cô đã thấy nó trong đoạn video, trong mấy tấm hình tham khảo, nhưng chưa bao giờ được cầm. Khuôn bánh căn. Một cái khuôn đã được dùng rất nhiều năm, đến mức đất nung đã ngấm dầu thành màu than.
Cô đưa ngón tay vuốt vô lòng một cái lỗ. Trơn. Không có một vết nứt.
– Bỏ xuống!
Con Ngần đứng ở cửa bếp, cặp sách còn đeo trên vai, mặt trắng bệch. Nó lao tới, giật cái khuôn khỏi tay cô, ôm vô ngực. Cái khuôn nặng, con nhỏ loạng choạng, Trà phải chụp lấy vai nó.
– Khuôn của má tui! – Con nhỏ hét. – Bả giấu trên gác bả tính bán chớ gì? Bán đôi bông tai của má tui chưa đủ hả? Bả còn tính bán luôn cái này?
– Dì không bán…
– Bả nói láo! Bả cái gì cũng bán! – Nước mắt con nhỏ trào ra, nhưng nó không khóc thành tiếng, nó nghiến răng lại. – Bả mà đụng vô là tui viết thơ cho ba tui!
Trà buông vai con nhỏ ra. Cô ngồi xuống cái ghế đẩu, để mắt mình ngang với mắt nó.
– Ngần. – Cô nói chậm. – Dì không bán cái khuôn. Dì tính đổ bánh căn.
Con Ngần khựng lại. Nó nhìn cô như nhìn một người vừa nói một chuyện điên.
– Bả hả? – Giọng nó vẫn còn nghẹt, nhưng đã nhuốm một chút gì giống như khinh khỉnh. – Bả đổ bánh hả? Bả nhóm cái bếp còn hổng cháy.
– Ừ. Thì con chỉ.
– Một câu năm trăm.
– Ừ. Ghi sổ.
Con Ngần đứng ôm cái khuôn thêm một hồi lâu. Rồi nó đặt khuôn xuống cái bàn tre, thật chậm, như đặt một đứa nhỏ đang ngủ.
– Má tui đổ bánh căn ở bến ghe. – Nó nói, không nhìn cô. – Bốn giờ sáng. Bán cho mấy ông đi biển về. Hồi đó ai cũng nói bánh của má tui ngon nhứt xóm. Bả đổ hổng được đâu. Bả đổ hư là bả làm mất mặt má tui.
Nó quay đi, ra sau hè. Trà nghe tiếng nước giếng xối xuống, xối xuống, như thể con nhỏ đang rửa mặt rất lâu.
Cô ngồi lại với cái khuôn. Mười hai cái lỗ đen bóng. Cô nghĩ, mình đổ hư thì mất mặt má nó. Mình mà không đổ thì tới Tết, nhà này về tay bà Năm. Hai cái đó, cái nào nặng hơn, cô không biết. Cô chỉ biết mình làm bánh mười ba năm, và đây là lần đầu tiên cô sợ một cái khuôn.
Tối đó Trà không ngủ được. Cái giường tre kêu cót két mỗi lần cô trở mình, muỗi luồn qua mấy chỗ vá của cái mùng. Ngoài kia sóng vỗ đều đều, cứ năm sáu giây một lần. Cô nằm đếm, như đếm cừu.
Gần nửa đêm, cô thấy có ánh đèn le lói ngoài hiên.
Cô vén mùng, đi chân không ra tới khung cửa, đứng nép bên cạnh cánh cửa gỗ. Thằng Vẹn đang ngồi xếp bằng trên bậc thềm, trước mặt là ngọn đèn dầu vặn nhỏ hết cỡ, trên đùi là một tập vở học trò mở ra. Nó cầm cây bút bi, cắn nắp bút, viết một dòng, ngừng, gạch, viết tiếp. Nó viết rất chậm, như mỗi chữ phải đục ra từ đá.
Viết xong một trang, nó xé ra, gấp làm ba, nhét vô một cái phong bì màu vàng nhạt, loại phong bì bán ở tiệm tạp hóa giá năm trăm đồng. Nó liếm mép dán, lấy cây bút viết lên mặt ngoài phong bì mấy chữ. Rồi nó ngồi nhìn cái phong bì hồi lâu, lâu tới mức ngọn đèn dầu bắt đầu kêu xèo xèo vì hết bấc.
Trà lùi lại một bước. Cánh cửa gỗ cô đang vịn kêu kẹt một tiếng.
Thằng Vẹn quay phắt lại. Nó úp cái phong bì xuống đùi, đứng dậy, chắn ngang ngọn đèn. Nhưng trước đó, chỉ trong một khoảnh khắc ánh lửa còn rọi tới, Trà đã kịp đọc được hai chữ viết tay nắn nót trên mặt phong bì, nét chữ học trò nghiêng nghiêng, to và đậm:
"Gửi ba."
— Hết chương 2 —

⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe