AI Truyện
Con ốc tù và của mẹ kế xóm Gành Ráng

⏳ Trọng sinh & xuyên không

Bức thư hai nét chữ

Con ốc tù và của mẹ kế xóm Gành Ráng · Chương 14/20 · Sáng tác: AI Truyện

📖 9 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 14: Bức thư hai nét chữ

Thằng Vẹn ngồi xổm xuống nhặt mấy mảnh chén bể, nhặt từng mảnh, chậm, như để có cớ không phải ngẩng lên. Cô Bảy Thắm đã đạp xe đi. Ngoài ngõ chỉ còn tiếng gà và tiếng sóng.

– Thơ đó là thơ của con. – Nó nói với mấy mảnh chén trong tay. – Hồi tháng Ba. Con đưa dì Hai gửi giùm. Con tưởng dì Hai gửi lâu rồi.

Trà ngồi yên trên ghế đẩu, cái thau cá cơm trước mặt.

– Trong đó con viết gì?

– Con viết… – Nó ngừng, nuốt nước miếng. – Con viết bả đánh tụi con. Bả bỏ đói tụi con. Bả đi thị trấn đánh đề, bán bông tai của má. Con viết ba về đuổi bả đi. Con viết… con nói con ghét bả.

Nó ngẩng lên. Mắt nó đỏ hoe.

– Hồi đó con nghĩ vậy thiệt. Giờ con hổng nghĩ vậy. Mà ba đọc thơ đó trước. Ba đọc mà hổng biết con nghĩ khác rồi.

Trà nhìn thằng nhỏ. Sáu tháng trước, nó đứng trong cái bếp tối, cạnh bọc muối hột, nói "tui trả, nhà của má tui thì tui giữ". Bây giờ nó ngồi xổm giữa hiên, tay cầm mấy mảnh chén bể, sợ ba nó đọc một lá thư nó viết hồi còn ghét cô.

– Vẹn. Lá thơ đó đúng là con viết. Hồi đó con nghĩ vậy, thì con viết vậy. Con không có nói láo. – Cô nói. – Giờ con nghĩ khác, thì con nói với ba con là con nghĩ khác. Vậy thôi.

– Nhưng ba ở ngoài khơi. Con đâu có nói được.

– Thì chờ ba vô bờ.

Thằng Vẹn không chịu chờ. Nó đứng dậy, đem mấy mảnh chén bể ra sau hè chôn dưới gốc chuối, theo cái lệ bà Chín vẫn dặn: chén bể trong nhà thì đừng vứt lung tung, chôn đi cho yên. Nó lấp đất lại rất kỹ, nện bằng gót chân, như chôn luôn cả cái lá thư.

Chiều hôm đó, nó đạp xe lên bưu điện văn hóa xã, xin cô Bảy Thắm lấy lại lá thư. Cô Bảy nói thư bảo đảm đã theo chuyến xe thư lên thị trấn từ trưa, giờ chắc đã trên đường vô Vũng Tàu rồi. Hôm sau, nó xin cô Bảy gọi giùm số điện thoại nhà ông chủ tàu ở Vũng Tàu. Gọi được, một người đàn bà nghe máy, nói tàu đã ra khơi từ đầu tháng Chín, chừng nào vô thì không biết, thơ từ gửi tới thì để ở nhà, tàu vô thì đưa.

Tối đó, thằng Vẹn ngồi dưới ngọn đèn dầu viết một lá thư khác. Nó viết bốn trang. Trà không đọc, nhưng cô thấy nó viết, gạch, xé, viết lại tới gần nửa đêm. Sáng hôm sau, nó đạp xe lên bưu điện gửi, cũng thư bảo đảm, tốn của nó hết nửa tháng tiền tiêu vặt.

– Hai lá thơ cùng nằm ở nhà ông chủ tàu. – Nó nói với Trà, giọng có chút nhẹ nhõm. – Ba vô bờ, ba đọc cả hai.

Trà gật đầu. Cô không nói ra cái điều cô đang nghĩ: người ta thường đọc lá thư dày trước.

Con Ngần biết chuyện vào tối hôm đó. Nó không nói gì với anh nó suốt ba ngày. Ăn cơm, nó ngồi quay lưng lại. Thằng Vẹn đưa nó cái gì, nó không cầm. Tới ngày thứ tư, Trà gọi cả hai đứa ra hiên, đặt giữa hai đứa một dĩa bánh căn đổ dư, rồi đi vô bếp. Khi cô quay ra, dĩa bánh đã hết, hai đứa ngồi cạnh nhau, không nói gì, nhưng cũng không quay lưng.

Tháng Mười trôi qua trong những trận mưa dài. Có những ngày mưa từ sáng tới tối, mưa xối xả trên mái tôn như ai đổ sỏi, ghe nằm im ở bến, chợ bến vắng hoe. Trà vẫn đổ bánh cho lò mắm bà Năm mỗi sáng, nhưng ở bến thì có bữa bán được, có bữa không. Cá cơm rim vẫn đi đều ở quán chú Sáu Tờ, nhưng xe đò thưa hơn, có tuần đường quốc lộ ngập, xe phải chạy vòng.

Có một đêm mưa to, mái tôn dột bảy chỗ. Bốn người lồm cồm bò dậy trong bóng tối, đặt thau, đặt nồi, đặt cả cái lon sữa bò cũ dưới từng chỗ nước nhỏ xuống. Nước rơi vô thau nhôm kêu bong bong, rơi vô nồi đất kêu bộp bộp, rơi vô lon sữa kêu tinh tinh. Thằng Còng ngồi giữa nhà, nghiêng tai nghe, rồi đứng dậy đổi chỗ cái lon với cái nồi, đổi thêm một lần nữa, cho tới khi mấy tiếng nước rơi nghe ra một thứ nhịp. Con Ngần phì cười trước. Rồi thằng Vẹn. Rồi Trà. Bốn người ngồi trong căn nhà dột, nghe mưa gõ nhạc, cười tới đau bụng, mà không ai nói được tại sao lại cười.

Thằng Còng đi học, mỗi ngày một trang vở ô li. Cô giáo đọc, nó viết. Cuối tháng Mười, nó viết được cả câu. Có một hôm, nó đem về khoe một trang vở có cô giáo chấm mười điểm đỏ chót. Trên trang đó, nó chép lại một câu cô giáo đọc: "Bé có ba, có mẹ." Chữ "mẹ" nó viết hơi to hơn mấy chữ kia.

Trà nhìn trang vở rất lâu. Cô không biết thằng nhỏ đang nghĩ tới ai khi viết chữ đó. Có thể là má nó. Có thể không. Cô cất trang vở vô rương, chỗ cô vẫn cất xấp thư của Mạnh và mảnh giấy gấp tư của dì Hai Thơm.

Thứ Năm, mười hai tháng Mười Một, chiều.

Trời tạnh mưa sau gần một tuần. Mây xám vẫn treo thấp trên biển, gió thổi giật từng cơn, lá dương rơi đầy sân. Trà đang ngồi ở hiên dạy thằng Còng ghép vần bằng mấy cái nắp chai có dán chữ thì nghe con Ngần hét lên ngoài ngõ.

– Ba! Ba về!

Trà đứng dậy.

Một người đàn ông đang đi vô từ đầu ngõ. Ông vác một cái ba lô vải bạt trên vai, tay xách một cái túi nilon to. Người ông thấp, chắc nịch, vai rộng, da đen bóng như da những người cả đời ở trên mặt nước. Tóc cắt ngắn, hai bên thái dương đã lốm đốm bạc. Trên cằm có một vết sẹo trắng dài chừng một đốt ngón tay. Ông đi chậm, mỗi bước chân đặt xuống chắc nịch như người đã quen đứng trên sàn ghe tròng trành.

Con Ngần chạy tới, ôm chầm lấy hông ông. Thằng Còng đứng dậy khỏi bậc thềm, chạy ra, rồi dừng lại cách ba nó mấy bước, ôm cái vỏ ốc. Ông cúi xuống, đặt cái ba lô xuống đất, ôm con Ngần bằng một tay, đưa tay kia ra. Thằng Còng nhìn bàn tay đó một lúc, rồi bước tới, để ba nó bế bổng lên.

Thằng Vẹn đứng ở khung cửa. Nó không chạy ra. Nó đứng im, hai tay nắm chặt.

Rồi ông ngẩng lên, nhìn Trà.

Đây là lần đầu tiên cô thấy mặt chồng mình. Một gương mặt vuông, xạm nắng, cặp mắt sâu, những nếp nhăn ở đuôi mắt hằn sâu như vết dao khắc. Một người đàn ông lạ.

Ông không cười. Ông đặt thằng Còng xuống, gỡ tay con Ngần ra, rồi đi thẳng vô nhà, ngang qua cô, ngang qua thằng Vẹn.

– Vô nhà. – Ông nói, giọng trầm, khô, không lớn. – Tui có chuyện hỏi bà.

Trong gian giữa, ông đứng trước bàn thờ, thắp một cây nhang cho vợ trước, đứng lặng một lúc. Rồi ông quay lại, lấy trong túi áo ra một cái phong bì dày, mép đã nhàu, đặt mạnh xuống mặt bàn.

Thằng Vẹn đã đi theo vô, đứng ở góc nhà. Con Ngần với thằng Còng đứng ngoài khung cửa, ló đầu vô.

– Bà đọc đi.

Trà cầm phong bì. Bên trong có ba tờ giấy học trò gấp làm ba.

Tờ đầu tiên, nét chữ học trò nghiêng nghiêng, to, đậm, nắn nót. "Gửi ba. Con là Vẹn. Con viết thơ này để báo cho ba biết bả đánh tụi con…" Cô đọc lướt. Đúng như thằng Vẹn đã kể. Những lời của một đứa nhỏ mười lăm tuổi đang giận, đang sợ, viết thẳng ra không cân nhắc.

Tờ thứ hai và tờ thứ ba thì khác.

Nét chữ nghiêng, nhỏ, gọn gàng, viết bằng bút bi xanh. Không có lời chào, không ký tên.

"Tư Mạnh. Tui viết thêm cho chú biết những chuyện thằng Vẹn còn nhỏ không dám nói. Con Mận có trai trên thị trấn. Thứ Bảy nào nó cũng lên, có người thấy nó vô tiệm vàng, ngồi cả buổi. Nó đem đồ của con Hảo đi bán, tiền chú gửi về nó đem đánh đề. Nó dụ dỗ con nít để tụi nó theo nó, để mai mốt nhà cửa về tay nó. Chú đừng tin cái mặt hiền của nó. Đồ con nuôi bệnh thuê, ở viện tỉnh nó đã quen thói ve vãn đàn ông có vợ đang nằm bệnh rồi…"

Trà đọc tới đó thì dừng lại.

Cô biết nét chữ này. Cô đã thấy nó trên một mảnh giấy gấp tư, cất trong cái rương gỗ ở buồng trong. "Rằm tháng Tám, tui rước thằng Còng qua bên tui ăn Trung thu."

– Ba. – Thằng Vẹn bước ra khỏi góc nhà. Giọng nó run, nhưng nó đứng thẳng. – Trang đầu là con viết. Hồi tháng Ba. Con viết sai hết. Dì Mận hổng đánh tụi con, hổng bỏ đói, hổng có đánh đề. Con đã gửi ba một lá thơ khác nói lại rồi. – Nó ngừng một chút. – Còn hai trang sau, hổng phải con viết. Con hổng biết ai viết.

Ông Mạnh quay sang nhìn thằng con trai. Nhìn một lúc. Gương mặt ông không thay đổi, nhưng hai bàn tay ông đặt trên mặt bàn từ từ nắm lại.

Rồi ông nhìn xuống tờ thứ ba, đúng chỗ Trà vừa dừng.

– Đồ con nuôi bệnh thuê. – Ông đọc to, chậm, từng chữ. Rồi ông ngẩng lên, nhìn Trà, và lần này gương mặt ông thay đổi. Không còn giận. Mà là một cái gì đó giống như sợ. – Bà… chuyện giường số chín, bà có nói với ai chưa?

Trà không trả lời được. Cô không biết "giường số chín" là gì, "con nuôi bệnh thuê" là ai.

Ông Mạnh nhìn cô thêm một hồi. Rồi ông quay sang ba đứa nhỏ.

– Vẹn. Dắt hai đứa em qua bà Chín chơi một chút.

Thằng Vẹn ngập ngừng, rồi gật đầu, dắt con Ngần với thằng Còng ra ngoài. Cánh cửa khép lại. Trong gian giữa chỉ còn hai người và cây nhang trên bàn thờ đang cháy dở, khói bay thẳng lên.

Ông Mạnh kéo cái ghế, ngồi xuống. Ông nhìn cô bằng cặp mắt sâu, mệt mỏi, như người vừa đi một chặng đường rất dài.

– Bà hổng nhớ thiệt hả? – Ông hỏi, giọng nhỏ hẳn. – Bà hổng nhớ cái giường số chín?

— Hết chương 14 —

Mục lục Con ốc tù và của mẹ kế xóm Gành Ráng

  1. 1Người biển trả về12 phút đọc
  2. 2Cái khuôn đất mười hai lỗ9 phút đọc
  3. 3Nói vô miệng ốc9 phút đọc
  4. 4Bánh căn của con mẹ ghẻ9 phút đọc
  5. 5Giọng người chồng qua dây điện10 phút đọc
  6. 6Người bỏ cát vô bột9 phút đọc
  7. 7Hộp thiếc của con Ngần10 phút đọc
  8. 8Kỳ chót ở tiệm vàng Ngọc Thạnh10 phút đọc
  9. 9Nước chấm của con Ngần10 phút đọc
  10. 10Chuyến ghe đêm của thằng Vẹn10 phút đọc
  11. 11Chị hội phụ nữ tới nhà9 phút đọc
  12. 12Cá cơm rim ở ngã ba quốc lộ10 phút đọc
  13. 13Hai cái lồng đèn đêm rằm9 phút đọc
  14. 14Bức thư hai nét chữ9 phút đọc
  15. 15Người nuôi bệnh giường số tám9 phút đọc
  16. 16Đêm chằng mái9 phút đọc
  17. 17Tiếng tù và trên gành9 phút đọc
  18. 18Lời thú nhận của dì Hai9 phút đọc
  19. 19Hai mươi ba tháng Chạp10 phút đọc
  20. 20Mồng Một ở Gành Ráng10 phút đọc

Về truyện này

Con ốc tù và của mẹ kế xóm Gành Ráng là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Thiện của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →