Chương 8: Kỳ chót ở tiệm vàng Ngọc Thạnh
Người đàn bà đứng sau tủ kính chừng năm mươi, người tròn trịa, mặc áo bộ hoa tím, cổ đeo sợi dây chuyền mặt chữ phúc to bằng đồng xu. Bà vẫy Trà vô bằng cả bàn tay, như vẫy một đứa cháu.
– Vô đây, vô đây. Đứng ngoài nắng làm chi.
Trà bước vô. Trong tiệm mát, có cái quạt trần quay chậm, mùi dầu đánh bóng kim loại. Trên vách treo một tấm lịch bloc dày cộm, một bàn thờ ông Địa nhỏ có trái thơm với ly nước. Người đàn bà kéo cái ghế đẩu nhựa đặt sát tủ kính.
– Ngồi. – Bà nói, rồi nhìn kỹ mặt Trà. – Ủa, cô ốm đi. Bị sao vậy?
– Dạ, em té biển. – Trà nói. – Em bị quên nhiều chuyện lắm. Chị… chị là…
– Trời đất ơi. – Người đàn bà ôm ngực. – Tui là Ba Lựu, chủ tiệm. Cô quên tui luôn hả? Hơn một năm nay thứ Bảy nào cô cũng ngồi cái ghế đó.
Trà nhìn xuống cái ghế đẩu nhựa màu xanh dưới mông mình. Một cái ghế bình thường, chân đã trầy.
– Chị Ba. – Cô nói. – Chị kể giùm em được không. Em ngồi đây làm gì?
Cô Ba Lựu nhìn cô thêm một lúc, như để chắc là cô không giỡn. Rồi bà thở ra, kéo cái hộc tủ dưới quầy, lấy ra một cuốn sổ bìa xanh, lật lật, rồi đặt nó sang một bên mà không mở ra cho cô coi. Bà đi vô phía sau, nghe tiếng mở két sắt lạch cạch. Lúc trở ra, trong tay bà là một cái bao giấy nhỏ, gấp mép, có ghi mấy chữ bằng bút bi.
Bà mở bao giấy, dốc nhẹ lên tấm nỉ đỏ trải trên mặt tủ kính.
Hai chiếc bông tai vàng rơi ra, nằm cạnh nhau. Mỗi chiếc hình một giọt nước, mặt chạm một bông mai nhỏ năm cánh, cái móc cong đã hơi mòn. Vàng không còn bóng loáng như vàng mới, mà có cái màu ngà ấm của đồ đã đeo nhiều năm.
– Tháng Tư năm chín sáu, thằng Tư Mạnh đem lên đây cầm. – Cô Ba Lựu nói. – Vợ nó nằm viện tỉnh, tiền đâu cũng hết. Tui cho cầm được bốn trăm rưỡi. Tới hạn nó hổng chuộc, quá hạn ba tháng nó cũng hổng chuộc. Tiệm tui có luật, quá hạn là bán. Tháng Giêng năm ngoái, tui đã tính đưa đôi này đi nấu lại.
Bà gõ ngón tay lên mặt kính, cạnh chiếc bông tai bên trái.
– Thì cô tới. Cô đứng ngay chỗ đó, nói cô là vợ mới của Tư Mạnh. Cô xin tui đừng nấu. Cô xin góp, mỗi tuần một ít, góp đủ vốn với lãi thì chuộc. Tui hỏi tiền đâu cô góp, cô nói cô làm đêm ở vựa cá. Tui hỏi sao hổng để Tư Mạnh lo, cô nói ảnh đi biển, ảnh lo nợ lớn, cái này để cô lo. – Cô Ba ngừng một chút. – Rồi cô xin tui một chuyện. Cô xin tui đừng nói với ai. Ai hỏi thì cứ để người ta nghĩ cô đem vàng tới bán.
Trà ngồi yên trên cái ghế đẩu. Cái quạt trần quay trên đầu cô, tiếng ù ù đều đều.
– Tại sao? – Cô hỏi. Giọng cô khô khốc.
– Tui cũng hỏi vậy. Cô nói, tụi nhỏ mà biết ba nó đem đồ của má nó đi cầm, tụi nó buồn ba nó. Thà tụi nó giận cô. – Cô Ba Lựu nhún vai. – Tui buôn bán ba chục năm, tui chưa nghe ai nói câu đó.
Ngoài chợ, có tiếng ai rao bánh bò, kéo dài, xa dần.
– Bữa thứ Bảy trước đó, cô dặn tui tuần sau cô lên trễ. – Cô Ba nói thêm. – Cô nói tuần đó hụt tiền góp, cô ra gành cạy mớ hàu bán đã. Rồi cô biệt luôn.
– Thứ Bảy nào cô cũng lên. – Cô Ba nói tiếp, giọng nhỏ hơn. – Cô đưa tiền, mười ngàn, có tuần mười lăm, có tuần năm ngàn. Rồi cô xin tui cho cầm đôi bông tai lên coi một chút. Cô cầm, cô ngồi đó. Có bữa cô khóc. Tui hỏi, cô nói: chị nó dặn để lại cho con gái nó, mà em chưa giữ được.
– Chị nó?
– Thì vợ trước thằng Mạnh chớ ai. – Cô Ba Lựu nhìn Trà bằng cặp mắt lạ lùng. – Cô kêu là chị Hảo. Tui tưởng hai người quen nhau từ trước.
Trà không trả lời. Cô nhìn xuống đôi bông tai trên tấm nỉ đỏ. Hai giọt nước bằng vàng, mỗi giọt có một bông mai.
Cô nhớ lại cái cách xóm này nói về Mận. Con Hảo mất chưa đầy năm mà nó đã bước vô nhà. Đồ ở đầm lên. Tuần nào cũng đi thị trấn, chắc đi đánh đề. Bán đôi bông tai của má tui. Cô nhớ đôi mắt đỏ hoe mà bà Chín bảo là không phải tại bụi.
Rồi cô nhớ ra một chuyện khác, chuyện của chính cô. Năm cô mười hai tuổi, chiếc nhẫn cưới của má ruột cô biến mất khỏi hộp nữ trang. Cô đã đổ cho dì Thục. Cô đã hét vô mặt dì, trước mặt ba, trước mặt hàng xóm. Dì Thục không cãi. Tới năm cô hai mươi, ba mới nói thật: năm đó ba bán chiếc nhẫn để đóng tiền học thêm cho cô. Ba dặn dì đừng nói. Cô đã không xin lỗi. Cô chỉ im lặng, rồi càng ít về nhà hơn, như thể im lặng thì cái lỗi đó sẽ tự mòn đi.
– Cô Mận? – Cô Ba Lựu gọi. – Cô sao vậy?
Trà ngẩng lên. Cô thấy mắt mình cay, và lần này không phải tại bụi.
– Còn bao nhiêu nữa chị?
Cô Ba mở cuốn sổ bìa xanh, dò ngón tay theo một cột số.
– Cô trễ bảy tuần, tui tính luôn lãi trễ thì còn một trăm tám chục ngàn. Đây là kỳ chót. Trả xong là của cô.
Trà mở cái túi vải đeo bên hông. Trong đó là một bọc nilon, cột thun, mỗi tờ tiền được vuốt thẳng. Bán thêm mấy buổi nữa, xấp tiền đã dày lên. Tối qua, cô đã lấy hết tiền lời bán bánh từ trong lon sữa bò ra, không biết để làm gì, chỉ biết mình nên mang theo. Cô đếm lên mặt kính. Một trăm bốn mươi lăm ngàn.
– Em chỉ có nhiêu đây. – Cô nói. – Em xin chị cho em trả trước. Tuần sau em đem lên ba mươi lăm.
Cô Ba Lựu nhìn xấp tiền. Những tờ năm trăm, một ngàn, hai ngàn, nhàu nhĩ, có mùi khói than và mùi nước mắm. Rồi bà nhìn Trà.
– Tiền này ở đâu ra?
– Em đổ bánh căn bán ở bến ghe.
– Bánh căn. – Cô Ba lặp lại. Rồi bà cười, một cái cười rất rộng, khoe chiếc răng vàng bên trái. – Thôi được. Tui bớt cho cô hai chục lãi trễ, coi như mừng cô té biển mà còn sống. Còn mười lăm ngàn, tuần sau đem lên. Đôi bông tai cô đem về luôn đi.
– Chị tin em vậy sao?
– Hơn một năm nay cô ngồi cái ghế đó. – Cô Ba Lựu nói, và đẩy đôi bông tai về phía Trà. – Cô hổng nhớ, mà tui nhớ.
Chuyến xe lam về xóm chiều đó, Trà ngồi ở băng ghế cuối, cái bao giấy nhỏ nắm chặt trong bàn tay để trong túi áo. Bụi đường đỏ quạch bay vô mặt cô. Cô không lau.
Xe đi ngang một khúc đường men theo mé đầm. Bên kia mặt nước lấp loáng là mấy cái nhà sàn thấp lè tè của xóm Đầm, chỗ người ta nói Mận đã lớn lên. Trà nhìn theo cho tới khi hàng dương che khuất. Cô nghĩ, người đàn bà đó đã ngồi đúng chỗ này, mỗi chiều thứ Bảy, suốt hơn một năm, tay trống trơn, nhìn ra cùng một mặt đầm. Hôm nay là lần đầu tiên chuyến xe này chở đôi bông tai về.
Tối, cơm nước xong, thằng Vẹn ra hiên học bài, thằng Còng ngủ sớm, ôm cái vỏ ốc. Trà đợi con Ngần rửa chén xong, đi ra sau hè, rồi mới gọi.
– Ngần. Vô đây dì nói cái này.
Con nhỏ đi vô, tay còn ướt, chùi vô vạt áo, mặt đề phòng.
– Gì?
Trà không nói gì. Cô lấy cái bao giấy nhỏ ra, dốc đôi bông tai lên lòng bàn tay mình, rồi chìa tay ra trước mặt con nhỏ, dưới ánh đèn dầu.
Con Ngần đứng sững.
Nó nhìn đôi bông tai rất lâu. Rồi nó đưa một ngón tay ra, rụt rè, chạm vô bông mai trên chiếc bên trái, như sợ chạm mạnh thì nó tan mất. Môi nó run lên.
– Bông tai của má. – Nó thì thầm. – Có cái bông mai. Má nói ông ngoại đặt thợ chạm cho má hồi má lấy chồng.
– Ừ.
– Bả… – Con nhỏ ngước lên, mắt đã nhòe nước. – Bả chuộc về hả?
Trà ngập ngừng. Cô nhớ giọng người đàn ông qua dây điện thoại: đừng có nói với tụi nhỏ. Cô nhớ câu Mận nói với cô Ba Lựu: thà tụi nó giận cô. Đó là một lựa chọn mà người đàn bà kia đã làm, suốt mười lăm tháng, mỗi thứ Bảy. Cô không có quyền làm ngược lại.
– Nó ở tiệm vàng trên thị trấn. – Cô nói. – Có người đem cầm, lâu rồi. Dì của hồi trước góp tiền mỗi tuần để chuộc. Còn kỳ chót, bữa nay dì trả. Ai đem cầm thì dì không nói được. Con chỉ cần biết nó về rồi.
Con Ngần nhìn cô. Trà thấy trong mắt nó đang có một cái gì đó vỡ ra, chậm, như tảng đá bị nước khoét lâu ngày.
– Thứ Bảy nào bả cũng đi thị trấn… – Con nhỏ nói, gần như với chính nó. – Là đi cái này hả?
– Dì nghĩ vậy.
– Vậy mà cả xóm nói bả đánh đề. Vậy mà tui… – Giọng nó nghẹn lại. – Vậy mà tui nói ba…
Nó không nói hết câu. Nó đưa hai tay ra, thật chậm, nhận lấy đôi bông tai từ lòng bàn tay Trà, áp vô ngực. Rồi nó khóc. Lần đầu tiên Trà thấy con nhỏ khóc thành tiếng, khóc nấc lên như một đứa nhỏ mười tuổi, đúng như nó là, đôi vai gầy run bần bật.
Trà không ôm nó. Cô chỉ ngồi đó, gần, đủ gần để nếu nó muốn ngả vô thì có chỗ. Con nhỏ không ngả vô. Nhưng nó cũng không bỏ đi.
Một hồi lâu, nó lau mặt bằng mu bàn tay, chạy đi lấy cái hộp thiếc dưới gầm bàn thờ, mở cái hộp nhung đỏ, cẩn thận móc từng chiếc bông tai vô hai cái khe trên miếng nệm lót. Đóng nắp. Ôm cái hộp thiếc vô lòng.
– Mai… – Nó nói, không nhìn Trà, giọng còn khàn. – Mai con dậy sớm. Con pha nước chấm cho… cho dì. Pha giống má.
Trà gật đầu. Cô không dám nói gì, sợ giọng mình cũng khàn như vậy.
Đêm đó cô nằm trong mùng, nghe sóng, nghĩ về câu cô Ba Lựu kể. Chị nó dặn để lại cho con gái nó. Hảo nằm viện tỉnh mấy tháng trời rồi mất. Mận về làm vợ Mạnh tám tháng sau. Cả xóm nói Mận là người dưng ở đầm lên, chen vô nhà người chết.
Nhưng người dưng thì làm sao biết Hảo đã dặn gì?
— Hết chương 8 —

⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe