Chương 19: Hai mươi ba tháng Chạp
Năm chỉ rưỡi vàng nằm trên tấm phản, mỗi phần gói trong một mảnh giấy đỏ, xếp thành một hàng.
Hai chỉ đầu tiên là của Trà, đổi từ hồi cuối tháng Tám. Một chỉ tiếp theo cũng của Trà, gom góp từ tháng Chín tới giữa tháng Chạp, qua mùa mưa, qua cơn bão, qua cái khuôn bể và mấy chục ký cá cơm mốc. Một chỉ rưỡi của ông Mạnh: tiền tàu cuối cùng ông chủ gửi về, cộng với tiền sửa máy ghe hai tháng nay mà người ta cứ dúi vô tay ông dù ông nói không lấy. Một chỉ của dì Hai Thơm.
Dì Hai đem một chỉ đó qua vào tối hai mươi mốt tháng Chạp. Bà đặt nó lên bàn, nói ngắn gọn: "Tui để dành mười mấy năm, tính để nuôi con. Giờ đưa cho nhà con Hảo." Trà định từ chối, dì Hai đã quay lưng đi ra ngõ, không cho cô kịp nói.
Năm chỉ rưỡi. Còn thiếu hai chỉ rưỡi.
Thằng Vẹn ngồi trên tấm phản, cây bút máy trong tay, tờ giấy nháp kín số. Nó đã tính đi tính lại cả chục lần trong một tháng nay, mà con số cuối cùng vẫn y nguyên.
– Tết năm nay cá cơm rim bán chạy hơn tháng Tám. – Nó nói. – Mà mình mất hàng hồi bão, phải mua cá khô giá cao. Lời ít hơn.
– Dì biết.
Con Ngần đi vô từ buồng trong, hai tay ôm cái hộp thiếc. Nó ngồi xuống cạnh Trà, mở nắp, lấy ra cái hộp nhung đỏ, đặt lên tấm phản cạnh mấy gói vàng.
– Bán cái này đi dì.
Trà nhìn cái hộp nhung đỏ. Rồi cô nhìn con nhỏ. Con Ngần mím môi, mắt đỏ, nhưng cằm thì hất lên y như hồi tháng Ba nó đòi năm trăm đồng một câu hỏi.
– Không. – Trà nói.
– Dì…
– Không, Ngần. – Cô cầm cái hộp nhung đỏ, đặt lại vô tay con nhỏ, gập mấy ngón tay nó lại. – Cái này dì của hồi trước góp hơn một năm trời mới chuộc về được. Không phải để bán. Cái này là của má con để lại cho con. Nhà mà mất, mình đi ở chỗ khác. Cái này mà mất, không chuộc lại được lần thứ hai.
Con Ngần cúi đầu, ôm cái hộp vô ngực.
– Vậy còn hai chỉ rưỡi?
Trà nhìn hàng gói vàng trên tấm phản. Cô đã nghĩ về hai chỉ rưỡi này suốt một tháng nay. Cô đã thức nhiều đêm, nằm nghe sóng, tính đi tính lại như thằng Vẹn. Và cô đã nghĩ ra một chuyện, không chắc ăn, nhưng là chuyện duy nhất cô có thể nghĩ ra.
– Mai dì đi gặp bà Năm. – Cô nói. – Dì không đi xin. Dì đi bán.
Đêm đó, cả nhà không ai ngủ sớm. Chú Sáu Tờ đặt thêm hai trăm bao cá cơm rim cho khách mua về ăn Tết, phải giao trong tuần, tiền thì chú hẹn ra Giêng mới trả. Ông Mạnh ngồi chiên cá trên bếp củi, tay đảo chảo đều như đảo máy. Thằng Vẹn hơ lưỡi cưa, đếm một hai ba. Con Ngần cân. Thằng Còng lựa cá gãy, vừa lựa vừa đánh vần mấy chữ trên miếng bìa con Ngần viết: "Cá… cơm… rim… Gành… Ráng". Dì Hai Thơm ghé ngang đem cho nồi chè đậu trắng, rồi ngồi luôn, cột sợi lác cho tới khuya.
Gần nửa đêm, Trà ngẩng lên khỏi đống bao nilon, nhìn một vòng quanh cái hiên chật ních người dưới ngọn đèn dầu. Cô nghĩ tới cái bếp bánh của mình ở Sài Gòn, cái tủ lạnh hai cánh, cái lò nướng đối lưu, cái điện thoại úp mặt xuống bàn cho khỏi thấy tên người gọi. Ở đó cô chưa từng có một cái hiên như vầy.
Sáng hai mươi ba tháng Chạp, thứ Hai, mồng tám tháng Hai năm một chín chín chín.
Trời trong, gió bấc thổi lạnh, mặt biển xanh thẫm, sóng lăn tăn. Cả xóm Gành Ráng đã bắt đầu dọn Tết: người quét vôi tường, người phơi bánh tráng, người lau bàn thờ. Mùi khói nhang, mùi mứt gừng, mùi nồi bánh tét nhà ai bắc sớm bay lẫn vào mùi muối.
Vựa bà Năm Ngự đã lợp lại mái ngói phía biển, ngói mới đỏ au bên cạnh ngói cũ xám xịt, trông như một tấm áo vá. Bà ngồi trong cái văn phòng nhỏ ở đầu dãy lò, trước mặt là cái bàn gỗ, một bình trà, một cái bàn tính bằng gỗ hạt cườm. Thằng Lộc đứng ở cửa. Ông Mạnh đi cùng Trà, nhưng đứng ngoài hiên, như đã hứa với cô.
Trà đặt bốn gói giấy đỏ lên bàn. Bà Năm mở từng gói, cân từng gói trên cái cân tiểu ly, gật đầu từng cái.
– Năm chỉ rưỡi. – Bà nói. – Còn hai chỉ rưỡi.
– Dạ. Con không có hai chỉ rưỡi, bà Năm. – Trà nói. – Con có một đề nghị.
Bà Năm Ngự rót trà. Không mời cô.
– Nói.
Trà ngồi thẳng lưng.
– Mắm của bà, bà bán cho thương lái theo can hai chục lít, giá thương lái ép. Bà bán được bao nhiêu, bà biết, con không nói. – Cô ngừng một chút. – Từ tháng Tám tới giờ, con bán cá cơm rim ở ngã ba quốc lộ. Tháng Chạp này, riêng anh lơ xe tuyến Sài Gòn lấy của con ba trăm bao, chia cho bà con ở trong đó ăn Tết. Ba lần anh hỏi con, có mắm hông chị, má tui với mấy bà trong hẻm muốn mua mắm ngoài này, mắm Sài Gòn bán không thơm.
Bà Năm không nói gì. Bà nhấp trà.
– Con xin bà mắm nhĩ loại một, đóng chai nhỏ, nửa lít một chai. Chai thủy tinh con đi xin, đi mua lại ở mấy tiệm ve chai, rửa sạch, luộc nước sôi. Nút bấc, bọc nilon, quấn rơm, lơ xe để dưới gầm xe, khách đặt trước thì giao tận tay, không ai phải ôm chai mắm lên ngồi. Con bán ở quán chú Sáu Tờ, bán qua lơ xe, bán chung với cá cơm rim. Mỗi chai, con trả bà tiền mắm theo giá thương lái. Phần lời, chia hai: một nửa của bà, một nửa con trừ thẳng vô nợ. Sáu tháng. Tới rằm tháng Bảy mà con trả không đủ hai chỉ rưỡi, nhà về tay bà. Con ký giấy.
Bà Năm Ngự đặt ly trà xuống.
– Mầy tính một tháng bán được bao nhiêu chai?
– Ra Giêng người ta mua quà ít, con tính hai trăm chai. Từ tháng Ba trở đi, ba trăm. – Trà nói. Thằng Vẹn đã tính cho cô con số này, ba đêm liền. – Mỗi chai lời ba ngàn, nửa của bà một ngàn rưỡi, nửa của con một ngàn rưỡi. Sáu tháng, phần con trừ nợ được hơn hai triệu một chút. Hai chỉ rưỡi bây giờ là một triệu mốt rưỡi. Dư.
– Lỡ bán không được?
– Thì bà vẫn bán được mắm theo giá thương lái, không mất đồng nào. Nhà vẫn làm thế chấp. Bà không lỗ.
Thằng Lộc ở cửa bật cười khẽ.
– Má. Con nói rồi mà. Con nhỏ này tính như con buôn Chợ Lớn.
Bà Năm Ngự không cười. Bà nhìn Trà rất lâu, cái nhìn dài như cái nhìn của bà hồi giữa tháng Năm, bên cái lò than ở bến ghe. Rồi bà nói, giọng hạ thấp, như kể chuyện của người khác:
– Hồi đó con Hảo cũng tới đây, ngồi đúng cái ghế đó, đòi bán mắm chai. Nó nói y như mầy. Tao không chịu. Tao nói mắm của tao, tao bán theo cách của tao.
Trà ngồi im.
– Tao già rồi. – Bà Năm nói tiếp. – Lò tao bể sáu thùng. Thằng Lộc nó muốn làm ăn khác tao mà tao không cho. – Bà quay sang thằng con. – Lộc. Mầy đi theo con Mận coi nó đóng chai. Học.
Thằng Lộc đứng thẳng lên, mặt ngơ ngác, như không tin vào tai mình.
Bà Năm kéo hộc bàn, lấy ra tờ giấy học trò gấp làm tư, tờ giấy bà đã giơ trước ngọn đèn dầu vào cái đêm tháng Ba. Bà mở ra, trải lên bàn. Bà không xé. Bà cầm cây bút bi, gạch một đường ngang qua con số "tám chỉ", rồi viết bên cạnh, nét chữ to, run run: "Ngày 23 tháng Chạp năm Mậu Dần, đã nhận năm chỉ rưỡi. Còn hai chỉ rưỡi, trả bằng mắm chai, hạn rằm tháng Bảy năm Kỷ Mão." Bà ký tên, rồi đẩy tờ giấy và cây bút qua cho Trà.
– Ký đi. Kêu thằng Mạnh vô ký luôn.
Trà ký. Cô ký tên Mận. Lần đầu tiên cô ký cái tên đó, và tay cô không run.
Ông Mạnh bước vô, cúi xuống ký bên cạnh. Ký xong, ông đứng thẳng lên, nhìn bà Năm, gật đầu một cái, rồi nhìn Trà. Ông không nói gì. Nhưng bàn tay ông đặt lên vai cô, rất nhẹ, rồi rút về.
Trưa hai mươi ba tháng Chạp, nhà Tư Mạnh cúng ông Táo.
Mâm cúng đặt trên cái bàn nhỏ trước bếp: một dĩa trái cây, một dĩa bánh căn đổ bằng khuôn má, một dĩa cá cơm rim, ba cây nhang, một đôi đèn cầy. Một con cá chép nhỏ bơi trong cái thau nhôm, con cá thằng Còng đòi ra chợ thị trấn chọn bằng được. Ông Mạnh khấn, giọng trầm, chậm. Ba đứa nhỏ đứng sau lưng ba nó, chắp tay. Trà đứng sau cùng.
Cúng xong, cả nhà ra cái bàu nước ngọt sau xóm thả cá. Thằng Còng ôm cái thau nhôm, đi trước, bước từng bước cẩn thận. Tới mé nước, nó ngồi xổm xuống, nghiêng thau, con cá chép trượt xuống nước, quẫy đuôi một cái, rồi lặn mất.
– Ông Táo đi rồi. – Thằng Còng nói, giọng khàn khàn, chậm rãi, như mọi câu nó nói trong gần ba tháng nay. – Ông Táo lên trời, ông Táo nói với má con nhà còn.
Không ai trả lời. Con Ngần đưa tay quẹt mắt. Thằng Vẹn nhìn ra mặt đầm.
Tối đó, sau khi ba đứa nhỏ đã ngủ, Trà ngồi một mình ở bậc thềm. Trời lạnh, gió bấc thổi lùa qua hàng dương, mặt biển phía xa đen thẫm, lấm tấm ánh đèn ghe. Trời không trăng. Trăng hai mươi ba phải tới gần nửa đêm mới mọc.
Thằng Còng đi ra từ trong nhà, chân không, ôm cái vỏ ốc. Nó ngồi xuống cạnh cô, sát bên, vai chạm vai.
– Dì. – Nó nói. – Dì nói với má con đi.
Nó chìa cái vỏ ốc ra, cái miệng loe chĩa về phía cô.
Trà cầm lấy. Cô chưa bao giờ nói vô cái vỏ ốc này cho ai khác ngoài thằng Còng. Cô nhìn cái lòng ốc màu hồng nhạt dưới ánh đèn dầu hắt ra từ khung cửa.
Cô ghé miệng vô.
– Chị Hảo. – Cô thì thầm. – Nhà còn. Ba đứa nhỏ khỏe. Thằng Vẹn học lớp mười. Con Ngần pha nước chấm giống chị. Thằng Còng nói được rồi. Chị yên tâm.
Cô ngừng lại. Rồi, không biết vì sao, cô nói thêm một câu, nhỏ hơn nữa:
– Còn Mận… em giữ giùm chị ấy được tới đây.
Thằng Còng cầm cái vỏ ốc lại, áp vô tai mình, nghe. Rồi nó đưa cái vỏ ốc áp lên tai Trà.
– Dì nghe đi. Má nói.
Trà áp tai vô vỏ ốc. Cô chờ nghe tiếng sóng, cái tiếng ù ù mà vỏ ốc nào cũng có.
Nhưng không phải tiếng sóng.
Rất xa, rất nhỏ, như từ dưới đáy một cái giếng sâu vọng lên, có một tiếng chuông reo. Tiếng chuông của một cái điện thoại. Cái điện thoại của cô. Đúng cái nhạc chuông cô đã cài từ ba năm trước, cái nhạc chuông cô vẫn để reo cho tới khi tắt mỗi lần màn hình hiện lên hai chữ "Dì Thục".
— Hết chương 19 —

⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe