Chương 5: Cơm nắm trên đèo Gió Bấc
– Bốn mươi cái đinh của mày cắm sai hết. – Phó Gia Minh nói, ngay sáng hôm sau, khi đứng ở bờ thửa thứ hai, tay cầm một cành tre khô chỉ dọc con mương. – Không phải rèn sai. Cắm sai.
Đe đang xách hai thùng nước, dừng lại giữa bờ. Nó đã quen với giọng cáu bẳn của Hoài, quen với những câu bâng quơ của ông già Khuất, nhưng chưa quen với kiểu nói này: chắc nịch, gọn, không để ai chen vào.
– Sai chỗ nào?
– Mày cắm thẳng hàng, mười sải một cái, như rào vườn. Linh khí không chảy thẳng. Nó chảy theo thế đất. – Gia Minh ngồi xổm, dùng cành tre vẽ lên mặt đất một đường cong. – Chỗ này mương đổ dốc, nước chảy nhanh, linh khí bị kéo theo, cần hai cái đinh sát nhau. Chỗ kia nước đọng, linh khí lắng xuống, một cái cũng thừa. Mày đặt đều tay thì chỗ thừa vẫn thừa, chỗ thiếu vẫn thiếu.
Hoài từ thửa thứ nhất đi lên, nghe được nửa sau. Cô khoanh tay.
– Anh vào tông được một đêm, đã chê.
– Tôi không chê. Tôi nói đúng. – Gia Minh đứng dậy, phủi tay. – Hai cái khác nhau.
Hoài nhìn anh ta một lúc lâu. Đe chờ cô nổi giận. Nhưng cô chỉ hất cằm về phía con mương.
– Vậy anh cắm lại đi. Thửa nào lên được tám phần, tối nay tôi cho anh thêm bát cơm. Không lên thì anh nhịn.
Gia Minh không trả lời. Anh ta xắn tay áo, đi dọc mương, nhổ từng cái đinh trận lên. Anh ta không nhổ hết. Anh ta nhổ mười bốn cái, đặt lại mười một cái ở chỗ khác, giữ lại ba cái trên tay, rồi đứng ở đầu mương rất lâu, nhắm mắt, như người nghe nhạc. Cuối cùng anh ta cắm ba cái đinh còn lại thành một hình tam giác nhỏ ngay chỗ con mương rẽ nhánh từ thửa thứ nhất xuống thửa thứ hai. Anh ta bảo đó là cửa chia nước, có quyết riêng, rồi chỉ cho Hoài thứ tự xoay.
Hoài mở cống.
Đến chiều, nước ở thửa thứ năm lên chín phần. Thửa thứ sáu lên năm phần, và đất xám ở đó bắt đầu sẫm màu lại.
Bữa tối Hoài xới cho Gia Minh hai bát thêm, không nói một lời. Gia Minh ăn hết, cũng không nói một lời. Đe ngồi giữa hai người, thấy không khí trên mâm như mặt nước trước cơn giông.
Những ngày đầu tháng Ba, cả tông chia nhau xây lại bờ sáu thửa dưới.
Đá bờ cũ đã đổ nhiều chỗ. Muốn xếp khan cho khít thì phải có đá đẽo vuông cạnh, mà đẽo đá là việc của Nương. Cô đứng trước một tảng đá to bằng cái chum, đặt hai bàn tay lên, ư ử trong cổ họng cái âm trầm như gió qua miệng chum. Một lúc sau, cô cầm cái búa tạ, gõ nhẹ ba cái vào ba chỗ dường như ngẫu nhiên. Tảng đá tách ra làm bốn, mặt cắt phẳng như dao lia.
Gia Minh đứng xem, không tìm ra chỗ nào để chê.
– Chị thấy đường nứt bằng gì? – Anh ta hỏi.
– Nghe. – Nương nói.
– Nghe cái gì?
Nương nghĩ rất lâu, lâu tới mức Gia Minh tưởng cô không trả lời.
– Đá nói chỗ nó đau.
Hôm mười một tháng Ba, giữa lúc đang cõng một phiến đá lên bờ thửa thứ bảy, Nương đứng sững lại. Phiến đá trên lưng cô nặng phải ba trăm cân. Cô đứng đó không nhúc nhích, chừng mười hơi thở. Rồi cô đặt phiến đá xuống, rất nhẹ, nhìn hai bàn tay mình.
– Nóng. – Cô nói.
Ông già Khuất, đang nằm võng dưới gốc thị tít trên sân, không mở mắt.
– Luyện Khí tầng một. – Ông nói vọng xuống. – Cõng đá mà vào. Nhà này toàn đứa vào cửa sau.
Ngày mười tám tháng Ba, thửa thứ nhất chín.
Bạch Châu mễ chín không vàng như lúa thường. Hạt chuyển từ màu ngà sang trắng trong, sờ vào mát như sờ hạt ngọc, cả thửa ruộng ánh lên một thứ ánh bạc khi nắng chiếu nghiêng. Hoài gặt bằng liềm, từng nắm một. Đe và Nương bó. Gia Minh đập lúa trên một cái phản gỗ. Cả thửa được một trăm mười cân thóc, xay ra chừng tám mươi cân gạo.
Tám mươi cân gạo linh mễ, theo giá năm ngoái ở trấn Bến Ghềnh, là bốn mươi viên linh thạch.
Hoài gánh hai mươi cân xuống trấn thử. Cô về tay không. Hiệu gạo ở trấn không dám mua. Hiệu thuốc không dám mua. Cả lão buôn đồ cũ ở cuối chợ, người mà ai cũng bảo mua được cả trộm cắp, cũng lắc đầu.
Tối ấy cô ngồi trong bếp, trước bao gạo, lâu tới mức nồi cám lợn trên bếp sôi trào. Đe tắt bếp hộ cô.
– Huyền Dương cấm được ở Bến Ghềnh. – Cô nói, không với ai cả. – Vì Bến Ghềnh sống bằng hàng của thương đoàn Huyền Dương. Còn chỗ nào không sống bằng hàng của chúng nó?
– Chỗ không có ai ạ. – Đe nói.
– Không. Chỗ có người đi qua mà không ở lại. – Hoài đứng bật dậy. – Đèo Gió Bấc.
Đèo Gió Bấc nằm ở phía bắc núi Chóp Nón, nửa ngày đi bộ, là con đường bộ duy nhất nối thành Lũng Vân với các trấn phía nam. Thương đoàn đi qua đèo phải mất trọn một ngày, đèo cao, gió lạnh cắt da, người đi bộ đến đỉnh thì đói tới hoa mắt, tu sĩ Luyện Khí cũng phải dừng lại thở. Trên đỉnh đèo có một khoảng đất bằng gọi là Bãi Đá, thương đoàn nào cũng dừng ở đó nghỉ chân.
– Bán gạo cho người đi đường thì ai mua? – Gia Minh hỏi. – Họ không nấu cơm giữa đèo.
– Không bán gạo. Bán cơm. – Hoài nói. – Cơm nắm linh mễ. Một nắm ăn xong đi được nửa ngày không đói, tu sĩ ăn vào hồi lại một ít linh lực. Ở Bãi Đá không có hiệu nào của Huyền Dương. Không có hiệu nào cả.
– Cơm nguội thì cứng, ai ăn. – Gia Minh nói.
Đe nhìn cái chõ đồ xôi bằng gỗ trên giá bếp. Nó nghĩ tới mấy đường văn giữ nhiệt nó đã thấy ông già vẽ cho nó xem hôm trước, đường văn ông bảo để khắc lên lò sưởi tay.
– Con khắc văn lên cái chõ. – Nó nói. – Cơm ở trong nóng được nửa ngày.
Hai ngày sau, Đe làm xong ba cái chõ. Nó cưa thêm vành gỗ, cạp bằng một đai sắt mỏng, khắc lên đai sắt một vòng văn giữ nhiệt. Hoài nắm cơm theo cách bà Ba Nụ dạy cô hồi nhỏ: nắm chặt tay, cơm vừa dẻo, bên ngoài lăn qua muối vừng rang. Mỗi nắm to bằng nắm tay người lớn. Nương cõng ba cái chõ, mỗi chõ năm mươi nắm, đi trước. Đe và Hoài đi sau, mang thêm ấm nước gừng.
Ngày đầu tiên ở Bãi Đá, họ ngồi từ sáng tới trưa không bán được nắm nào. Thương đoàn qua đèo nhìn ba đứa ngồi cạnh ba cái chõ gỗ, chẳng ai dừng. Tới đầu giờ Mùi, một đoàn ngựa thồ chở chè từ phía Lũng Vân lên tới đỉnh đèo. Người dẫn đoàn là một tu sĩ Luyện Khí tầng sáu, mặt tái mét vì gió, môi nứt nẻ.
Hoài mở nắp chõ. Hơi cơm bốc lên, trắng xóa trong gió lạnh, mang theo mùi gạo mới và mùi vừng rang.
Người dẫn đoàn quay đầu.
– Bán thế nào?
– Ba nắm một viên. Phàm nhân trả hai tiền bạc một nắm.
– Đắt.
– Ông ăn một nắm, không thấy đáng thì không trả.
Người dẫn đoàn cầm một nắm cơm, cắn. Ông nhai chậm. Rồi ông nhắm mắt lại. Đe thấy rõ sắc mặt ông thay đổi, từ màu tro ngả sang hồng, như người vừa uống chén rượu. Ông mở mắt ra, quay lại sau lưng, quát vào trong đoàn:
– Đứa nào còn đi được thì xuống đây mua cơm!
Chiều hôm ấy họ bán hết một trăm năm mươi nắm.
Tới cuối tháng Ba, chuyện cơm nắm Bãi Đá đã truyền đi dọc con đường thương đoàn. Có đoàn ở Lũng Vân nghe nói, cố ý đi đường đèo thay cho đường sông để được ăn. Có người đặt trước mười nắm, hai mươi nắm. Gạo thửa thứ nhất bán hết sạch, Hoài phải giữ lại một ít làm giống. Vụ thứ hai, gieo cả năm thửa trên vào ngày hai mươi tháng Ba. Gia Minh tính rằng nếu nước giữ được tám chín phần, bốn mươi lăm ngày sau, đầu tháng Năm, năm thửa này cho được ít nhất bốn trăm cân gạo.
Đêm hai mươi chín tháng Ba, Hoài đổ hết linh thạch trong túi ra bàn, đếm. Đe ngồi đếm cùng. Nương ngồi xem, thỉnh thoảng nhặt một viên lên soi vào ánh đèn. Gia Minh đứng tựa cửa.
– Hai trăm chín mươi. – Hoài nói. Cô đếm lại. – Hai trăm chín mươi.
Không ai nói gì. Hai trăm chín mươi viên, còn cách ba nghìn sáu trăm một quãng xa tới mức nhìn không thấy. Nhưng một tháng rưỡi trước, trong kho chỉ có ba mươi bảy.
Ông già Khuất ngồi ngoài hiên, quạt mo cau phe phẩy. Ông không vào đếm cùng. Nhưng lúc Hoài đọc con số lần thứ hai, Đe thấy cái quạt dừng lại một nhịp, rồi mới phe phẩy tiếp.
Sáng hôm sau, lúc trời vừa rạng, có tiếng gió rít trên đầu.
Đe chạy ra sân. Một cái bóng lớn trượt qua đỉnh núi, che khuất mặt trời vừa nhô lên. Đó là một chiếc thuyền bay, thân gỗ sơn son dài phải hai mươi sải, hai bên mạn giương bốn cánh buồm vải trắng, trên mỗi cánh buồm thêu một hình mặt trời đỏ ba tia. Chiếc thuyền bay chậm rãi lượn một vòng quanh núi Chóp Nón. Rồi lượn thêm vòng nữa, thấp hơn. Đe thấy trên mũi thuyền có một người đứng, áo bào xanh thẫm, hai tay chắp sau lưng, nhìn xuống chín thửa ruộng bậc thang.
Rồi chiếc thuyền ngóc mũi, bay về hướng tây, về phía núi Dương Phong.
Khi Đe quay lại, cánh cổng chín đinh đã có thêm một vật. Cắm vào khe giữa cánh cổng và cột cổng là một tấm thiếp bằng giấy dó đỏ, mép thiếp viền chỉ vàng.
Hoài rút tấm thiếp ra, đọc. Cô đọc to, giọng không có chút lên xuống nào.
– "Mùng hai tháng Tư, Diêm mỗ của Huyền Dương Tông xin lên núi Chóp Nón uống một chén nước với Khuất chưởng môn. Không dám làm phiền lâu."
Ông già Khuất, đứng ở cửa nhà tổ, đưa tay gãi cằm.
– Nhà có chè không?
– Không có, sư phụ.
– Thế thì nấu nước vối. – Ông nói. – Nấu đặc vào.
— Hết chương 5 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe