Chương 15: Chia đôi ở bến thuyền bay
Hội quán của Huyền Dương Tông ở thành Lũng Vân là một tòa nhà ba gian mái ngói xanh bên bờ sông, sân lát gạch nung đỏ, hai cây ngọc lan trước cửa, và người gác cổng nhìn Hoài từ đầu tới chân như nhìn một gánh hàng rong đi lạc.
– Trưởng lão đang dùng điểm tâm.
– Thì tôi chờ. – Hoài nói. – Ông vào thưa là Ung Thanh Hoài của Tùng Khê Tông xin gặp. Thưa thêm là chuyện núi Chóp Nón, chuyện mũi khoan.
Người gác cổng đi vào. Lẫm đứng sau lưng Hoài, mặc lại bộ áo xanh thẫm đã giặt sạch, cái áo duy nhất gã còn tử tế. Gã đứng thẳng lưng, nhưng Đe, đứng nép ở góc tường bên kia đường cùng Gia Minh và Nương, thấy hai bàn tay gã nắm chặt hai vạt áo.
Hoài đã quyết định chuyện này từ lúc gà gáy. Cả đêm qua không ai ngủ. Tới canh năm, cô ngồi dậy, buộc tóc, nói: tôi đi gặp ông Diêm. Gia Minh bảo ông ta sẽ không tin. Lẫm bảo ông ta sẽ tin, nhưng sẽ không nói là tin. Hoài bảo cô không cần ông ta nói.
Người gác cổng quay ra, mời vào.
Đe không được vào. Nó chỉ biết chuyện bên trong qua lời Lẫm kể lại sau đó, trên bến thuyền bay, và Lẫm kể như đọc biên bản, không thêm thắt gì.
Ông Diêm ngồi ở gian giữa, trước mâm điểm tâm có bát phở gà, đĩa quẩy, ấm chè. Ông không đứng dậy, nhưng mời Hoài ngồi, rót cho cô một chén chè. Hoài không uống.
– Người của trưởng lão đang khoan sườn bắc núi Chóp Nón. – Hoài nói.
– Ngoại vụ đường có việc đo đạc. – Ông Diêm nói. – Rằm tháng Tám núi về bản tông, đo trước cho kịp mùa.
– Rằm tháng Tám chưa tới. – Lẫm nói từ sau lưng Hoài. Ông Diêm liếc gã, rất ngắn, rồi quay lại nhìn Hoài.
– Cô tới để nói chuyện lệ?
– Tôi tới để nói chuyện cái mạch. – Hoài nói. – Tờ trình tháng Chín năm ngoái của quản sự Sính viết: mạch thở theo nhịp, một hơi một khắc. Trưởng lão đọc rồi. Trưởng lão đã thấy cái mạch nào thở chưa?
Ông Diêm đặt đũa xuống.
Hoài kể. Kể gọn, không dài dòng: ông Trùn dưới núi, năm thú triều, tám cột đá, tám cái đinh, đan của sư phụ cô, đinh thứ ba nứt, đất trấn Bến Ghềnh rung ba lần chiều mười hai. Cô không kể vì sao cô biết. Cô không kể về khối đồng tinh.
Ông Diêm nghe hết, không ngắt lời một lần. Nghe xong, ông rót thêm chè vào chén mình.
– Một con trùn to như núi. – Ông nói. – Cô có chứng cứ không?
– Không có. – Hoài nói. – Tôi chỉ có cái tờ trình của người nhà ông, một con hạc giấy của bà bán xôi, và một ông già hai trăm mười một tuổi bốn mươi hai năm không bước xuống chân dốc. – Cô ngừng lại. – Trưởng lão là người tính xa. Tôi không xin trưởng lão tin. Tôi xin trưởng lão tính thử. Nếu tôi sai, ông dừng khoan hai ngày, mất hai ngày. Nếu tôi đúng mà ông không dừng, núi Chóp Nón đổ xuống trấn Bến Ghềnh, ba nghìn người, và người ta sẽ hỏi ai cầm mũi khoan.
Ông Diêm im lặng. Rồi ông hỏi một câu mà Lẫm bảo gã không ngờ.
– Khuất Bá Nhàn biết hết từ đầu. Sao không nói với Huyền Dương?
– Nói thì các ông tin không? – Hoài hỏi lại. – Hay các ông mua núi sớm hơn, để có người khác đứng gác con trùn mà không phải trả công?
Ông Diêm nhìn cô một lúc. Rồi ông cười, một cái cười rất nhẹ ở khóe miệng.
– Cô học ông ấy được cái giọng.
– Còn một chuyện. – Hoài nói. – Đêm mười một, khay thi Điền của Tùng Khê bị rải hắc diêm. Bà Nhữ Thị Cẩn đã lấy mẫu. Hắc diêm ấy lẫn trấu đốt. Cả kho ngoại vụ đường Bến Ghềnh chỉ có lô tháng Tư lẫn trấu đốt. Phiếu xuất lô ấy, ba cân, ngày hai mươi lăm tháng Tư, người lĩnh là Giang Đức Sính. Đất ruộng nhà tôi đêm mùng ba tháng Năm cũng là thứ muối ấy, mẫu cũng nằm trong tay bà Cẩn. – Cô đứng dậy. – Chuyện này Hội sẽ xét. Tôi không đem ra đổi chác. Tôi chỉ nói để trưởng lão biết người của ông đang cầm mũi khoan là ai.
Cô đi ra. Ông Diêm gọi theo, không to.
– Ta sẽ gửi hạc truyền tin cho Sính. Bảo dừng.
Hoài không quay lại.
Ra tới đường, cô đi thẳng tới chỗ ba người đang chờ. Mặt cô trắng bệch.
– Ông ta gửi hạc. – Cô nói. – Hạc truyền tin bay tới Bến Ghềnh mất nửa ngày. Tối nay Sính mới nhận. Mà nhận rồi có nghe hay không… Khoan thêm một ngày nữa…
– Thì mình về trước. – Gia Minh nói.
– Đi bộ hai ngày.
– Thuyền bay. – Lẫm nói. – Bến thuyền bay ở cửa bắc. Thuê nguyên chiếc, nửa ngày tới Bến Ghềnh.
– Bao nhiêu?
Lẫm không trả lời ngay. Gã gẩy bàn tính.
– Thuê nguyên chiếc, ngày lễ hội, chắc hai trăm. Mặc cả thì một trăm tám mươi.
Hoài nhìn ba người. Rồi cô nhìn Đe. Đe biết cô đang nghĩ gì. Ngày mai thi Khí. Mỗi tông hai người. Không thi thì mất trắng hai vòng đã thắng, mất ba nghìn viên. Không về thì ông già ngồi một mình trước cổng, tám cái đinh nứt dần, mũi khoan Huyền Dương cắm vào lưng con trùn.
– Em với anh Minh ở lại. – Đe nói, trước khi cô kịp nói. – Mai em rèn. Anh Minh khắc trận. Sư tỷ về giữ ruộng. Chị Nương về hát. Chú Lẫm về đọc lệ cho người Huyền Dương nghe.
Hoài nhìn nó rất lâu.
– Mày mười sáu tuổi.
– Em đủ tuổi thử căn hai năm rồi.
Gia Minh trải tờ giấy vẽ lên mặt một cái thùng gỗ ven đường. Ba người kia chụm đầu lại. Anh ta vẽ nhanh, vừa vẽ vừa nói.
– Đinh thứ chín không thể là một cái đinh thường. Tám mảnh đan trong tám cái đinh kia, khi sư phụ rời trung cung, chúng sẽ không còn chỗ dựa. Muốn trận không sụp, đinh thứ chín phải nối được tám cái đinh với chín thửa ruộng. Lấy ruộng làm nguồn thay cho đan. – Anh ta vẽ chín ô vuông xếp bậc thang, từ mỗi ô một đường chạy về một điểm giữa. – Thửa nào cũng phải ngập nước, có linh khí. Đủ chín thửa. Thiếu một thửa thì trận lệch.
– Thửa thứ chín chỉ có hai phần. – Hoài nói.
– Vì nó nằm ngay trên miệng con trùn. – Gia Minh nói. – Con trùn hút khí của thửa ấy để thở. Đêm mai, khi đóng đinh, thửa thứ chín phải ngập. Ngập sâu, đầy linh khí. Chị làm được không?
Hoài không trả lời. Cô chỉ gật đầu.
– Chị Nương. – Gia Minh quay sang. – Con trùn sẽ động khi trận đổi nguồn. Chị phải hát cho nó suốt từ lúc sư phụ rời trung cung tới lúc đinh thứ chín vào chỗ.
– Hát được. – Nương nói. – Bà nội hát ba đêm.
– Chú Lẫm.
– Tôi biết. – Lẫm nói. – Tôi đuổi người Huyền Dương xuống núi.
Họ thuê được thuyền bay lúc giờ Tỵ, một chiếc thuyền chở hàng cũ thân sơn nâu, buồm vá ba chỗ, ông lái là một ông già Trúc Cơ sơ kỳ hút thuốc lào liên tục. Lẫm mặc cả từ hai trăm hai xuống một trăm tám mươi, trả trước một trăm, trả nốt khi tới nơi. Khi đếm tiền, gã đếm ra tám mươi viên để lại cho Đe và Gia Minh. Tiền trọ tới hết đêm mười bốn gã đã trả từ hôm tới.
– Bảy trăm bốn mươi. – Gã nói, như nói với chính mình. – Trừ một trăm tám mươi, còn năm trăm sáu mươi. Cộng ba nghìn nếu thắng. Ba nghìn năm trăm sáu mươi.
Đe nhẩm theo. Ba nghìn năm trăm sáu mươi. Món nợ là ba nghìn sáu trăm.
– Thiếu bốn mươi. – Nó nói.
– Về rồi tính. – Hoài nói.
Cô bước lên thuyền. Nương bước theo, chiếc thuyền chòng chành một cái rồi mới đứng lại. Lẫm bước lên sau cùng. Gã quay lại nhìn Đe và Gia Minh đứng trên bến.
– Lửa đất Đài Khí mỗi tông được dùng sáu canh giờ. – Gã nói nhanh. – Lò số mười bốn của Tùng Khê. Lò số mười một của Thanh Dương. Người canh lò của Hội ăn lương hai nơi, tôi biết vì tôi từng trả. Đừng để ai sờ vào bễ.
Rồi chiếc thuyền nhấc lên.
Đe đứng trên bến, nhìn nó nhỏ dần về phía nam, vượt qua tường thành, vượt qua sông Lũng, thành một chấm nâu trên nền trời xanh nhạt, rồi khuất sau rặng núi đèo Gió Bấc.
Hai đứa về quán trọ. Gia Minh trải giấy ra sàn, vẽ tới tối. Đe ngồi bên cạnh, khối đồng tinh đặt trên đùi.
– Mày biết vì sao sư phụ đưa cái này cho mày, không đưa cho tao không? – Gia Minh hỏi, không ngẩng lên.
– Vì em là thợ rèn.
– Vì mày tạp linh căn. – Gia Minh nói. – Đồng tinh không phải một thứ kim. Nó là năm thứ nấu chung: kim là xương, thổ là thịt, hỏa là máu, mộc là gân, thủy là hơi. Người đơn linh căn rèn nó thì chỉ giữ được một thứ, bốn thứ kia tan. Đinh ra đẹp, nhưng chết. Tao song linh căn, giữ được hai. – Anh ta đặt bút xuống. – Mày có năm cái tay.
Đe nhìn khối kim loại lạnh trên đùi mình. Nó nhớ hòn cuội thử căn, năm vệt màu cuộn vào nhau như năm sợi chỉ rối. Hôm ấy Hoài thở ra bằng mũi.
Hoài kể lại với Đe chuyện trên thuyền nhiều ngày sau. Rằng giữa giờ Mùi thuyền vượt đèo Gió Bấc, và từ trên cao cô đã thấy núi Chóp Nón. Sườn nam xanh ngắt, tám thửa ruộng ngập nước loang loáng dưới nắng, thửa thứ chín vàng úa. Sườn bắc có một cột khói xám bốc lên giữa rừng thông, và quanh cột khói là một khoảng rừng trống như ai cạo trọc.
Thuyền tới gần hơn thì chao mạnh. Ông lái già nhả khói thuốc lào, chửi một câu, bảo linh khí quanh núi loạn như nồi canh sôi, không bay thấp được. Ông hạ thuyền ở bãi sông Ghềnh dưới chân trấn.
Lúc thuyền hạ, Hoài nhìn lên phía cổng tông. Từ dưới bãi sông, cái cổng chỉ to bằng hạt đậu. Nhưng cô nhìn thấy trước cổng có một cái bóng ngồi trên bậc đá trên cùng, không động đậy. Bên cạnh là một cái bóng nhỏ hơn, màu xám.
Cái bóng người ngồi đó, Hoài kể, như một cái cọc cắm xuống đá.
— Hết chương 15 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe