Chương 12: Đài Trận thành Lũng Vân
Sáng mùng tám tháng Tám, ông già Khuất đứng ở cổng tiễn họ, một tay chống gậy, một tay ôm con ngỗng, và câu duy nhất ông dặn là đừng ăn ốc ở Lũng Vân.
– Ốc trong thành nuôi ở hào. Nước hào đục.
– Sư phụ ở nhà một mình… – Hoài nói, rồi dừng lại.
– Ở với ngỗng. – Ông già nói. – Ngỗng nấu cháo giỏi hơn con.
Hoài đứng ở bậc đá trên cùng thêm một lúc. Đe thấy cô nhìn ông già, nhìn cái cổng sau lưng ông, nhìn tám cái đinh, nhìn lâu nhất cái đinh góc trên bên phải. Rồi cô quay đi, bước xuống, không ngoái lại. Nương cõng một cái gùi to chứa gạo, muối, nồi niêu. Gia Minh đeo cái hòm tre đựng giấy vẽ. Lẫm đeo bàn tính. Đe đeo tay nải, trong có cây búa của cha và khối đồng tinh bọc vải nâu.
Đi được nửa dốc, Đe ngoái lại. Ông già vẫn đứng ở cổng, nhỏ như một cái cọc. Con ngỗng đã tuột khỏi tay ông, đứng bên cạnh. Một người một ngỗng đứng như thế cho tới khi khuất sau rặng thông.
Họ đi hai ngày. Đêm đầu ngủ nhờ ở Bãi Đá trên đỉnh đèo Gió Bấc, trong một cái lều của đoàn ngựa thồ chở chè, người dẫn đoàn chính là ông tu sĩ tầng sáu đã ăn nắm cơm đầu tiên hồi tháng Ba. Ông nghe họ đi thi thì đãi cả đoàn một nồi cháo gà, bảo cơm nắm của cô Hoài ông nợ một bữa.
Chiều mùng chín, thành Lũng Vân hiện ra dưới chân đèo.
Đe chưa từng thấy cái gì to như thế. Thành nằm trong một thung lũng rộng, tường đá xám bao quanh, dài tới mức đứng trên đèo nhìn xuống không thấy hết. Sông Lũng chảy xuyên qua giữa thành, chia thành hai nửa, nối bằng bảy cây cầu đá. Mái ngói đỏ, mái ngói xanh, mái lá, chen nhau dày đặc như vảy cá. Ở góc đông bắc, sát chân núi, có một cột khói trắng bốc thẳng lên trời, không tan, không lệch theo gió.
– Đài Khí. – Lẫm chỉ. – Lửa đất. Mười năm mới mở cho người ngoài.
Đe nhìn cột khói ấy rất lâu. Trong tay nải, khối đồng tinh đè lên lưng nó.
Họ trọ ở một quán nhỏ trong ngõ Gốc Bàng, phía nam sông, một gian buồng cho cả năm người, ba viên linh thạch một đêm, Lẫm mặc cả xuống còn hai viên. Buồng có hai cái giường, Hoài và Nương ngủ giường, ba người kia trải chiếu dưới đất. Bữa tối là bánh đa cua mua ở đầu ngõ. Không ai ăn ốc.
Tối ấy Đe lén đi một mình tới góc đông bắc thành. Đài Khí là một tòa nhà đá tròn, không cửa sổ, mái hình chóp, cột khói trắng bốc thẳng từ đỉnh chóp. Đứng cách tường hai mươi bước đã thấy hơi nóng phả vào mặt, mùi lưu huỳnh lẫn mùi kim loại chảy. Dưới chân tường, đá lát đường ấm như đá lát sân phơi giữa trưa. Nó đặt tay lên tường. Bên trong có tiếng gì đó trầm, đều, như tiếng nồi nước sôi khổng lồ. Nó đứng nghe tới khi lính gác ra đuổi về.
Sáng mùng mười, Đài Trận.
Đài Trận là một khoảng sân lát đá rộng như cánh đồng, nằm giữa một vòng khán đài bậc đá. Hai mươi ba cái bàn đá xếp thành hình vòng cung, mỗi tông một bàn. Trên mỗi bàn đặt một phiến đá đen phẳng to bằng mặt chiếu, mặt đá khoét chín cái hốc nhỏ xếp ba hàng ba. Bên cạnh là một cái hộp gỗ đựng mười hai cái chốt đồng, một cái lò than nhỏ đang cháy đỏ, và một cái bát sứ đựng đầy nước.
Trên khán đài phía bắc, ba vị giám khảo ngồi sau một cái bàn dài. Người ngồi giữa là một bà già tóc bạc trắng búi cao, mặc áo dài màu tro, lưng thẳng như cây cột. Lẫm thì thầm đó là bà Nhữ Thị Cẩn, trận sư Kết Đan hậu kỳ, giám khảo trưởng của Hội. Hai người hai bên là hai ông trung niên, một ông râu rậm, một ông mặt trắng.
– Ông mặt trắng là Lạc Bá Thông. – Lẫm nói nhỏ. – Trận sư của Hội, nhưng con rể một trưởng lão Huyền Dương. Tôi từng gửi quà Tết cho ông ta.
Thanh Dương Môn đứng ở bàn thứ bảy, cách bàn Tùng Khê ba bàn. Sáu người áo trắng mới tinh, đai lưng thêu chỉ bạc. Đứng đầu là một gã cao lớn, mặt vuông, Lẫm gọi là Khổng Văn Tư, Luyện Khí tầng tám. Gã liếc sang bàn Tùng Khê, thấy Lẫm, khựng lại một chút, rồi quay đi.
Một hồi trống. Bà Cẩn đứng dậy.
– Đề thi Trận. – Giọng bà không to, nhưng vang khắp sân như có ai nói ngay bên tai. – Mỗi tông dựng một trận trên đá thử, giữ bát nước trên lò than. Bát không được chạm đáy lò. Nước không được sôi, không được tràn. Giữ trọn một nén hương thì đạt. Trận càng gọn, càng ít chốt, điểm càng cao. Bắt đầu.
Hương được thắp. Gia Minh và Đe bước lên bàn.
Gia Minh không chạm vào chốt ngay. Anh ta cúi xuống nhìn phiến đá đen, nhìn từng cái hốc. Rồi anh ta đặt tay lên hốc góc dưới bên trái, rồi hốc góc trên bên phải. Mặt anh ta đổi sắc.
– Đá thử khoét theo Trận Phổ quyển ba. – Anh ta nói, rất nhỏ. – Khảm với Ly ngược. Đúng chỗ tao bị đuổi.
Ở bàn thứ bảy, Thanh Dương Môn đã cắm xong chín cái chốt vào chín hốc, đúng theo sách. Khổng Văn Tư đặt bát nước lên. Cái bát từ từ nhấc lên khỏi mặt bàn, lơ lửng trên lò than, mặt nước sáng lên một thứ ánh trắng bạc. Khán đài ồ lên.
– Theo sách thì nửa nén hương nước sẽ vỡ. – Gia Minh nói. – Nhưng chúng nó có hai đứa tầng tám đứng đổ linh lực vào. Đủ sức đè. Đè được một nén hương.
– Còn mình?
– Mình có tao tầng bảy, mày tầng hai. – Gia Minh nhìn chín cái hốc. – Đè không nổi. Phải dựng đúng. Mà đá này khoét sai, dựng đúng thì phải bỏ đi hai hốc Khảm Ly… – Anh ta lắc đầu. – Không đủ. Bảy điểm thì lệch.
Đe nhìn phiến đá. Chín cái hốc, ba hàng ba. Nó nhớ tới chín cái chậu sành, chín viên sỏi, chỗ nước muốn nằm. Rồi nó nhớ tới một thứ khác. Tám cái đinh đồng trên cánh cổng gỗ lim, ba hàng ba, đóng lệch.
– Tám. – Nó nói. – Bỏ hốc giữa.
Gia Minh quay lại nhìn nó.
– Trận không có trung cung…
– Cổng nhà mình không có trung cung. Tám đinh vẫn đập. – Đe nói nhanh. – Anh đặt tám chốt, lệch như cổng nhà mình. Khảm Ly không đối nhau, Chấn lệch về phía Tốn nửa đốt. Anh nói thế hôm rằm tháng Hai. Em nhớ.
Gia Minh đứng im một hơi thở. Rồi anh ta cầm tám cái chốt đồng.
Anh ta không cắm vào hốc. Anh ta đặt chốt nằm trên mặt đá, ngay mép hốc, lệch đi, cái nhiều cái ít, như tám cái đinh trên cổng. Hốc giữa bỏ trống. Đe đặt bát nước lên chính giữa, ngay trên cái hốc trống ấy.
Cái bát không nhấc lên. Mấy người trên khán đài bật cười.
Gia Minh đặt hai ngón tay lên một cái chốt. Đe đặt tay lên cái chốt ở góc đối diện. Nó thở như ông già dạy, như cha dạy: nhấc búa hít vào, nện búa thở ra. Năm luồng ấm trong người nó chảy xuống lòng bàn tay, chảy vào cái chốt đồng.
Cái bát rung lên. Rồi nó nhấc khỏi mặt bàn, chậm, như người ngồi dậy sau một giấc ngủ dài. Nó lên tới ngang tầm ngực thì dừng, lơ lửng trên lò than. Mặt nước trong bát không sáng lên. Không có ánh bạc nào. Nó chỉ phẳng lặng, phẳng tới mức Đe nhìn thấy cả bóng mây trên trời phản chiếu trong đó.
Rồi Gia Minh nhấc tay khỏi chốt. Đe cũng nhấc tay ra. Cái bát vẫn nằm yên giữa không trung.
Khán đài im bặt.
Nén hương cháy hết. Bát nước của Thanh Dương Môn vẫn lơ lửng, sáng bạc, nhưng hai gã tầng tám đứng hai bên mồ hôi đầm đìa, tay run. Bát nước của Tùng Khê vẫn lơ lửng, không ai chạm vào, nước trong bát còn mát. Có chín tông khác giữ được trọn nén hương. Mười hai tông vỡ bát giữa chừng.
Ba vị giám khảo đi xuống, đi qua từng bàn. Tới bàn Tùng Khê, ông Lạc Bá Thông cúi xuống nhìn tám cái chốt đặt lệch trên mặt đá, nhíu mày.
– Không cắm chốt vào hốc. Bỏ trống trung cung. Không theo phép.
– Đề không bắt phải theo phép. – Gia Minh nói. – Đề bảo trận càng gọn càng cao điểm. Tám chốt, hai người, đổ linh lực đúng một lần rồi buông tay, không ai đứng đè, vẫn giữ trọn nén hương.
– Đá thử của Hội khoét chín hốc thì phải dùng chín hốc.
– Đá thử của Hội khoét sai. – Gia Minh nói, rất rõ.
Ông Lạc quay phắt lại. Khán đài xì xào. Bà Nhữ Thị Cẩn, đứng sau lưng ông, không nói gì. Bà cúi xuống, đưa một ngón tay lên sát cái bát nước lơ lửng, không chạm vào. Bà giữ ngón tay ở đó rất lâu.
Kết quả công bố trước giờ Ngọ. Thanh Dương Môn chín điểm. Tùng Khê Tông tám điểm, bị trừ một điểm vì "không theo phép đá thử". Hai giám khảo trừ, một giám khảo không trừ. Ai cũng đoán được ai là người không trừ.
Lẫm ghi con số vào sổ, mặt không đổi.
– Chín với tám. Còn hai vòng. – Gã nói. – Không thua.
Gia Minh đứng nhìn tấm bảng gỗ ghi điểm, hai tay nắm chặt. Đe tưởng anh ta sẽ cãi tiếp. Nhưng rồi anh ta thở ra, quay sang Đe.
– Cổng nhà mình. – Anh ta nói, rồi cười. Đó là lần đầu tiên Đe thấy anh ta cười.
Họ đang thu dọn thì có người đứng chắn trước bàn.
Bà Nhữ Thị Cẩn. Gần, bà trông già hơn nhiều so với lúc ngồi trên khán đài. Da mặt mỏng, những nếp nhăn sâu như vết dao khía trên vỏ cây. Nhưng đôi mắt bà sắc như mũi dùi.
– Trận tám điểm bỏ trung cung, chốt đặt lệch, Khảm Ly không đối. – Bà nói. – Ai dạy?
– Không ai dạy ạ. – Đe nói. – Cổng nhà con đóng như thế.
– Cổng nhà con ở đâu?
– Núi Chóp Nón. Tùng Khê Tông.
Bà Cẩn đứng im. Đe thấy môi bà mấp máy, như nhẩm một cái tên cũ. Rồi bà hỏi, giọng hạ xuống thấp hẳn, thấp tới mức chỉ Đe và Gia Minh nghe thấy.
– Khuất Bá Nhàn còn sống à?
– Dạ còn.
– Hai trăm mười một tuổi. Trúc Cơ. – Bà nói chậm, từng chữ. – Sao còn sống được?
— Hết chương 12 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe