Chương 20: Chỗ đó treo được rồi
Biên bản bồi thường Lẫm viết xong lúc mặt trời vừa lên khỏi rặng núi phía đông, viết trên bậc đá thứ mười, chỗ ông già Khuất vừa ngồi cười, và gã viết ba lần mới vừa ý.
– Lệ Bách Môn Hội, điều mười một, khoản ba. – Gã đọc to cho Hoài nghe, ngón tay dò từng dòng. – Tông nào vào đất tông khác trước hạn chuyển giao, đào bới trái giấy phép, gây thiệt hại thì đền gấp ba. Bờ thửa thứ chín sụt bốn sải, mương vỡ ba mươi sải, sụt vì đất nứt từ lỗ khoan sườn bắc, ngày mười ba. Có hai người làm chứng ký. Đá, công xếp, công khơi mương, tính theo giá thợ ở Bến Ghềnh, mười lăm viên. Gấp ba: bốn mươi lăm.
– Còn ba bờ đêm qua mình tự phá? – Hoài hỏi.
– Không tính. – Lẫm nói. – Mình phá thì mình chịu. Ghi vào là gian.
Hoài nhìn gã một lúc. Rồi cô gật đầu.
Giờ Tỵ, ngày rằm tháng Tám, ngoại vụ đường Huyền Dương ở trấn Bến Ghềnh mở cửa sơn xanh thẫm. Hoài, Lẫm và Đe bước vào. Đe ôm cái túi gấm của Hội. Lẫm ôm cái túi vải đựng bốn trăm tám mươi viên còn lại và tám mươi viên Đe mang về từ Lũng Vân. Hoài cầm tờ biên bản.
Trưởng lão Diêm Bá Toại ngồi sau cái bàn gụ mà tám năm nay là bàn của Lẫm. Ông đã thay áo. Nhưng dưới gấu quần ông còn một vệt bùn ruộng chưa giặt hết.
Lẫm đổ linh thạch ra bàn. Gã đếm. Gã không cần bàn tính. Gã xếp linh thạch thành từng chồng mười viên, từng hàng mười chồng, như người lính xếp hàng. Ba mươi lăm hàng. Sáu chồng lẻ.
– Ba nghìn năm trăm sáu mươi. – Gã nói. Rồi gã đặt tờ biên bản lên trên chồng cuối. – Thiếu bốn mươi. Xin trưởng lão xét khoản đền này. Bốn mươi lăm.
Ông Diêm đọc tờ biên bản. Đọc rất kỹ. Đọc tới dòng cuối, "Quản sự Sính không ký", ông dừng lại lâu hơn. Rồi ông cầm bút, chấm mực, ký tên mình vào góc dưới. Chữ ký của ông nhỏ, gọn, nghiêng.
Đe nhìn chữ ký ấy. Nó nhớ Gia Minh nói: không có tờ giấy nào mang tên ông ta.
– Trừ bốn mươi lăm. – Ông Diêm nói. – Tùng Khê Tông trả đủ. Dư năm viên.
Ông đẩy năm viên linh thạch về phía Lẫm. Rồi ông lấy ống tre đựng khế ước nợ trong ngăn kéo ra, rút cuộn giấy, trải trên bàn. Ông cầm cuộn giấy lên, đưa về phía ngọn nến trên bàn.
– Không đốt. – Lẫm nói.
Ông Diêm dừng tay.
– Ghi "đã trả đủ", ngày, giờ, đóng dấu ngoại vụ đường, ký tên. Trả lại bản gốc cho Tùng Khê. – Lẫm nói. – Đốt rồi thì mười năm sau có người bảo chưa trả, lấy gì mà cãi.
Ông Diêm nhìn gã. Rồi ông bật cười, đặt cuộn khế ước xuống bàn, viết.
Lẫm cầm cuộn khế ước, đọc lại hai lần dòng chữ "đã trả đủ", thổi cho khô mực, cuộn lại, bỏ vào ống tre, rồi ôm ống tre vào ngực như ôm cái bàn tính. Đe đứng cạnh gã, thấy gã đưa tay áo lên quệt ngang mắt một cái thật nhanh. Không ai nói gì. Hoài vỗ nhẹ lên vai gã hai cái, như người ta vỗ vai người nhà.
Ra về, ông Diêm gọi Hoài lại ở cửa.
– Huyền Dương sẽ không khoan ở núi Chóp Nón. – Ông nói. – Ta sẽ viết tờ trình về con trùn ấy gửi lên tông chủ. Ta sẽ ký. – Ông ngừng một chút. – Còn một chuyện. Vườn thuốc Dương Phong cần gạo linh mễ nấu cháo cho đệ tử mới nhập môn. Mua theo giá chợ.
– Ba nắm một viên. – Hoài nói.
– Gạo. Không phải cơm nắm.
– Gạo thì nửa viên một cân. – Hoài nói. – Ông muốn mua gạo thì phải chờ chúng tôi xếp xong ba cái bờ.
Ông Diêm gật đầu, không mặc cả thêm.
Buổi chiều hôm ấy, chợ phiên rằm tháng Tám ở trấn Bến Ghềnh đông nhất trong năm. Người ta bán bánh nướng, bánh dẻo, đèn ông sao, đầu lân giấy bồi, bưởi, hồng. Trẻ con chạy khắp chợ. Và dưới gốc gạo, cạnh quán xôi, có một ông già gầy như que củi, mặc cái áo the vá hai khuỷu tay, chống gậy, đứng nhìn nồi xôi.
Bà Ba Nụ ngẩng lên. Cái đũa xăm xôi trong tay bà rơi xuống đất.
– Ông Khuất.
– Bà Ba. – Ông già nói. – Cho ta một nắm xôi gấc.
Bà Ba Nụ không gói xôi. Bà đứng đó, nhìn ông. Bà nhìn từ đầu tới chân, như nhìn để chắc ông không phải hình nộm ai dựng lên dọa trẻ con. Rồi bà ngồi phịch xuống cái ghế con, đưa vạt áo lên che mặt.
Ông già đứng chờ. Ông không giục.
Lúc sau bà bỏ vạt áo xuống, mắt đỏ hoe, gói cho ông một nắm xôi gấc to gấp đôi nắm thường, rắc vừng, rắc muối hạt to.
– Không lấy tiền. – Bà nói.
– Ta có tiền. – Ông già nói, rồi quay lại. – Lẫm, tông ta còn mấy viên?
– Năm viên, chưởng môn. – Lẫm nói. – Trưa nay đổi một viên ra bạc, mua hai cân thịt ba chỉ, mấy củ gừng, với cái bánh nướng nhân hạt sen thằng Đe đòi mua cho sư phụ, nó bảo bánh ông Diêm cho trên thuyền bị nó đè bẹp trong túi. Còn bốn viên, cô Hoài dặn để mua thóc giống, không ai được đụng. Bạc lẻ còn ba tiền.
– Ba tiền. – Ông già đặt ba đồng bạc lẻ lên mẹt xôi. – Mua xôi. Mua thêm đậu phụ. Ta đi mua đậu.
Ông chống gậy, đi về phía dãy hàng đậu. Đi được mấy bước, ông dừng lại, quay đầu nhìn quanh chợ: những gánh hàng, những mái lá, những đứa trẻ cầm đèn ông sao chạy qua chân ông, cái đình mái cong, dòng sông Ghềnh chảy qua ghềnh đá. Ông đứng nhìn rất lâu. Rồi ông đi tiếp.
Bà Ba Nụ nhìn theo, rồi nhìn Đe.
– Bốn mươi hai năm. – Bà nói. – Ông ấy vẫn đi như thế. Hai tay chắp sau lưng. – Bà lau tay vào tạp dề. – Tờ chiêu đệ tử ở bến đò Bãi Sắt ấy, bà nhờ thuyền muối dán đấy. Ông ấy viết mười tờ, bà gửi đi mười bến. Mười năm mới có một đứa cầm về.
Lúc về, leo ba trăm bậc đá, ông già đi chậm, cứ mười bậc lại dừng thở. Đe đi sau, xách hai bìa đậu phụ và gói thịt. Tới bậc thứ một trăm hai, chỗ rễ cây trồi lên, nó nhớ ra một chuyện chưa kể.
– Bà Nhữ Thị Cẩn nhắn sư phụ ạ. Bà bảo bốn mươi hai năm trước sư phụ gửi hạc lên Hội xin người, Hội tới chậm ba ngày. Bà bảo bà là người đi chậm. Bà bảo bà xin lỗi.
Ông già dừng lại, chống gậy, nhìn xuống trấn.
– Cô Cẩn hồi ấy mới Trúc Cơ. – Ông nói. – Chạy ba ngày đường không nghỉ. Tới chân dốc thì ta đóng đinh xong rồi. Cô ấy đứng dưới ấy khóc, ta đứng trên cổng vẫy tay bảo về. Hôm trước đó có một thằng bé áo xanh của Huyền Dương cũng đứng đúng chỗ ấy, cầm thư. Ta cũng vẫy tay bảo về. – Ông thở ra. – Hai người đứng chân dốc, bốn mươi hai năm cùng nghĩ mình có lỗi. Ta thì ngồi trên cổng nghĩ mình có lỗi. Ba người mà không ai nói với ai.
– Sư phụ có nhắn gì lại không ạ?
– Nhắn rằng ta xuống chợ rồi. – Ông già nói, rồi đi tiếp. – Cô ấy hiểu.
Ba ngày sau, hai cậu trai trẻ ở trấn, hai đứa từng đứng đọc tờ chiêu đệ tử ở gốc gạo hồi tháng Sáu rồi bỏ đi, leo ba trăm bậc đá lên cổng tông. Đứa đi trước cầm một tờ giấy, tờ cáo thị của Bách Môn Hội ghi kết quả Tam Nghệ Hội, mà Lẫm đã nhờ ông trưởng trấn Mạch dán ở đầu dốc chợ. Hai đứa không hỏi có bao ba bữa không. Đứa đi sau hỏi có được học xếp đá không.
Nương bảo được. Rồi cô dẫn hai đứa xuống ruộng, nơi ba cái bờ vỡ đang được xếp lại, từng hòn một. Bốn đứa ngoại môn Huyền Dương ở lại đêm hôm ấy vẫn ngày ngày leo lên giúp, không nhận công. Một đứa trong số đó, đứa có cái cuốc văn giun, hỏi Hoài xem Tùng Khê có nhận người Huyền Dương đuổi không. Hoài bảo hỏi chưởng môn. Chưởng môn bảo hỏi con ngỗng.
Gia Minh vẽ lại toàn bộ hệ mương cho chín thửa, lần này vẽ theo một mặt nước, không phải chín. Anh ta viết một lá thư dài gửi lên Bách Môn Hội về đá thử khoét sai, ký tên Phó Gia Minh, Tùng Khê Tông. Bà Nhữ Thị Cẩn hồi âm bằng một câu: "Ta sửa rồi."
Hoài không đi lấy Trúc Cơ Đan đợt tháng Chín. Nhưng tối nào cô cũng ngồi trên bờ thửa thứ chín một canh giờ, hai bàn tay đặt trên mặt nước, không đổ linh lực xuống ruộng nữa, mà để ruộng đổ ngược lên tay cô. Ông già bảo cứ thế hai năm thì cái cửa trong đan điền của cô tự mở. Cô bảo cô chia đôi mà tin.
Nhưng đó là chuyện những ngày sau. Tối rằm hôm ấy, Đe ra cổng tông khi trăng đã lên. Trăng rằm tháng Tám, tròn, vàng như lòng đỏ trứng vịt, như đêm rằm tháng Hai Gia Minh gõ cổng.
Con ngỗng Quản Gia đứng ở bậc thềm. Thấy nó, con ngỗng lạch bạch đi xuống, đứng trước mặt nó, rồi nhả một vật xuống chân nó. Một sợi quai nón bằng dây gai, cũ, sờn, đứt một đầu. Sợi quai nón nó đội từ làng Bãi Sắt lên, bị con ngỗng ngậm mất sáng mùng sáu tháng Hai.
Đe nhặt sợi quai lên. Nó ngồi xuống bậc đá, buộc sợi quai vào cái nón lá rách, buộc chặt hai đầu. Rồi nó đứng dậy, nhìn lên cánh cổng.
Chín cái đinh đồng. Tám cái cũ, sáu cái nứt, cái thứ bảy ghép ba mảnh, hai cái giữa còn lành. Cái thứ chín ở giữa, mới, mũ đinh khắc văn giun xoáy ốc.
Nó nhìn qua cánh cổng mở, về phía gốc thị. Ông già Khuất nằm trên võng, quạt mo cau phe phẩy trên ngực. Ông không ngủ. Ông đang nhìn nó.
Đe cầm cái nón lá, treo lên cái đinh giữa.
– Chỗ đó treo được rồi. – Ông già nói. Rồi ông quay mặt vào trong, gọi con ngỗng. – Quản Gia. Ra đây. Ván nữa.
Đe đặt tay lên cái đinh thứ chín, ngay dưới vành nón. Nó ấm. Nó đập, một cái, chậm. Rồi rất lâu sau, lại một cái. Nó đặt tay sang cái đinh bên cạnh. Cũng ấm. Cũng đập.
Cùng một nhịp.
— Hết —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe