Chương 17: Lửa đất
Lửa đất không đỏ. Đó là điều đầu tiên Đe thấy khi người canh lò kéo tấm cửa sắt của lò số mười bốn lên: ngọn lửa trong lò trắng lóa pha xanh, như ánh trăng bị ai nén lại, và nó không reo như lửa than mà rít khe khẽ, đều, như hơi thở qua kẽ răng.
– Sáu canh giờ. – Người canh lò nói. – Hết giờ tôi đóng cửa.
Gã đàn ông trung niên, mặt rỗ, đeo tạp dề da. Gã liếc nhìn bộ bễ gắn bên hông lò, rồi liếc sang lò số mười một, nơi Thanh Dương Môn đang bày đồ nghề. Rồi gã đi ra ngồi ở cái ghế đẩu cạnh cửa.
Gia Minh đi một vòng quanh lò. Anh ta dừng ở bộ bễ. Bễ của Đài Khí không phải bễ da kéo tay. Nó là một cái hòm đồng, mặt hòm khắc trận, gió tự thổi khi người dùng đặt tay lên. Gia Minh ngồi xuống, ghé mắt nhìn vào khe dưới đáy hòm.
– Chú Lẫm bảo đừng để ai sờ vào bễ. – Đe nói nhỏ.
– Có người sờ rồi. – Gia Minh nói, cũng nhỏ. Anh ta thò hai ngón tay vào khe, rút ra một cái chốt đồng nhỏ bằng que tăm, đầu chốt khắc một nét văn. – Chốt đảo gió. Lúc mày nấu tới giữa chừng, nó đổi chiều gió. Lửa đang trắng thành tím, đồng tinh đang chảy bị tôi lại giữa chừng. Nứt.
Anh ta không giơ cái chốt lên cho ai thấy. Anh ta bỏ nó vào túi áo, rồi đặt tay lên mặt hòm bễ, nhắm mắt. Một lúc sau, ngọn lửa trong lò rít đều hơn.
– Rèn đi. – Anh ta nói. – Bễ tao giữ.
Một lúc sau, khi người canh lò đứng dậy đi lấy nước, Gia Minh đi theo ra tận chum. Đe thấy anh ta lấy cái chốt đồng trong túi ra, đặt vào lòng bàn tay gã mặt rỗ, gập năm ngón tay gã lại.
– Của chú rơi. – Gia Minh nói, đủ to cho hai lò bên cạnh nghe thấy.
Gã mặt rỗ đứng sững, cái gáo nước trong tay nhỏ giọt xuống giày. Gã không nói gì. Gã quay về ghế đẩu, ngồi xuống, và suốt năm canh giờ sau đó không nhìn về phía bễ lò số mười bốn lần nào nữa.
Đe mở gói vải nâu.
Nó không nghĩ nhiều. Đêm qua nó đã nghĩ cả đêm. Bây giờ nó chỉ làm.
Nó đặt khối đồng tinh vào nồi nấu bằng đá chịu lửa, đẩy vào giữa lò. Khối đồng tinh đỏ lên. Rồi trắng lên. Rồi, sau gần một canh giờ, khi mồ hôi đã chảy ròng ròng trên lưng Đe dù nó đứng cách miệng lò hai bước, mép khối kim loại bắt đầu mềm ra, sụt xuống, chảy.
Đồng tinh chảy không giống đồng thường. Nó không loãng như nước. Nó sánh như mật, và trên mặt nó có năm màu loang lổ, đỏ, xanh lá, vàng đất, trắng bạc, xanh nước, cuộn vào nhau như năm sợi chỉ rối.
Đe nhìn năm màu ấy, và nó hiểu Gia Minh nói đúng.
Nó rót đồng tinh vào khuôn cát. Chờ tới khi mặt kim loại chuyển từ trắng sang vàng chói. Gắp ra, đặt lên đe.
Sắt còn vàng chói thì nện phần kim. Nó nhấc búa, hít vào. Nện, thở ra. Nhát đầu tiên nó không dùng sức, chỉ dùng hơi, cái luồng ấm thứ nhất trong năm luồng dưới rốn, luồng có vị lạnh và cứng như sắt. Nó dẫn luồng ấy xuống búa. Khối kim loại dưới búa không dẹt ra. Nó co lại, chặt lại, như người nghiến răng. Xương.
Sang màu da cam thì tới thổ. Luồng thứ hai, nặng, chậm, như bùn. Nó nện ba nhát nhẹ. Khối kim loại dày lên, đầy lên. Thịt.
Sang đỏ tươi thì tới hỏa. Luồng thứ ba nóng rát, chạy dọc cánh tay nó như kiến cắn. Nó nện một nhát nặng. Tiếng búa vang lên khắp Đài Khí, mấy người ở lò bên cạnh quay đầu nhìn. Máu.
Nó cảm thấy mình đuối dần. Năm luồng ấm trong người nó không to. Luyện Khí tầng hai, mỗi luồng chỉ là một sợi chỉ. Nó đã tiêu ba sợi. Hai sợi còn lại mỏng như tơ.
Đỏ gạch thì tới mộc. Nó hít vào, và lần này, thay vì nghĩ tới cha, nó nghĩ tới chín thửa ruộng bậc thang, tới đám lúa trắng ngà rạp xuống trong gió, tới đám giun hồng bò lên mặt bùn. Luồng thứ tư chảy ra, mềm, dai. Nó nện, kéo dài cái thân đinh, nắn nó. Gân.
Đỏ sẫm thì tới thủy. Luồng cuối cùng. Nó gần như không còn gì. Nó dừng lại, thở. Rồi nó nghe, không phải bằng tai, một chỗ trống trong người nó, sâu hơn lần trước, như cái giếng được đào thêm một đoạn nữa. Gió ùa vào. Nó không biết gió ấy từ đâu tới. Từ ngọn lửa đất trắng xanh đang rít trong lò, từ hơi thở của Gia Minh bên bễ, từ năm canh giờ đứng trước lò. Luồng thứ năm đầy lên.
Nó nện nhát cuối. Hơi.
Cái đinh nằm trên đe. Thân dài bằng một gang tay, to bằng ngón cái, mũ đinh tròn to bằng nắm tay người lớn. Giống hệt tám cái đinh trên cổng. Màu vàng sẫm. Nhưng đang nguội dần.
– Tầng ba. – Gia Minh nói khẽ, mắt nhìn Đe chứ không nhìn cái đinh. – Mày vừa lên tầng ba giữa lúc rèn.
Đe không nghe. Nó đang cầm cái đục.
Mũ đinh còn màu đỏ gạch. Còn thời gian cho văn. Nó nhìn Gia Minh.
– Văn giun. – Nó nói.
Gia Minh không trả lời ngay.
– Sư phụ bảo đừng khắc lên thứ gì to hơn cái cuốc.
– Sư phụ sợ em gọi ông Trùn dậy. – Đe nói. – Nhưng đêm nay đóng đinh, sư phụ rời trung cung, tám mảnh đan buông ra, kiểu gì ông Trùn cũng động. Chị Nương hát. Nhưng chị Nương hát bằng tiếng của chị. Cái đinh thì nói bằng gì? Đinh của sư phụ nói bằng tiếng khóa. Khóa bốn mươi hai năm. Em không muốn khóa nữa.
Gia Minh nhìn nó rất lâu.
– Mày định ru nó.
– Chị Nương bảo: hay gọi nó ngủ.
Gia Minh không nói gì nữa. Anh ta buông tay khỏi hòm bễ, cầm cây bút than, vẽ lên mặt đe, cạnh cái đinh, chín ô vuông xếp bậc thang và chín đường chạy về một điểm.
– Mày khắc văn giun trên mặt mũ đinh. Tao khắc trận văn quanh vành mũ. Chín đường, nối về chín thửa. – Anh ta ngẩng lên. – Nhanh lên. Nó sắp nguội.
Hai đứa khắc cùng lúc. Đe khắc từ tâm mũ đinh ra, một đường ngoằn ngoèo xoáy ốc như vết giun bò, vừa khắc vừa thở theo tiếng ư ử của Nương mà nó đã nghe suốt sáu tháng. Gia Minh khắc quanh vành, chín nét ngắn, cách đều, như chín bậc ruộng.
Khắc xong nét cuối cùng, cái đinh trên đe kêu lên một tiếng. Không phải tiếng chuông. Một tiếng trầm, rất khẽ, như ai ư ử trong cổ họng.
Rồi nó im.
Giờ Thân, ba vị giám khảo đi qua từng lò.
Thanh Dương Môn rèn một thanh kiếm. Lưỡi kiếm sáng như gương, chém một nhát vào cột đá, cột đá đứt làm đôi. Khổng Văn Tư thưa rằng nghề chính của tông là kiếm trận, kiếm này dùng làm mắt kiếm trận. Ông Lạc Bá Thông gật gù. Bà Nhữ Thị Cẩn hỏi tông có kiếm trận nào. Tư không trả lời được.
Tới lò số mười bốn, bà Cẩn nhìn cái đinh đặt trên mảnh vải nâu.
– Cái gì đây?
– Đinh trận ạ. – Đe nói.
– Nghề chính của tông các cậu là gì?
Đe nhìn Gia Minh. Gia Minh gật đầu.
– Làm ruộng ạ.
Mấy người đứng xem bật cười. Ông Lạc Bá Thông nhếch mép. Bà Cẩn không cười.
– Chứng minh đi.
Gia Minh xin Hội mang khay Thanh Hòa thảo hôm kia của Tùng Khê ra. Khay được mang tới, hai mươi tám cây cỏ xanh mướt, rễ trắng. Anh ta đặt tám cái chốt đồng quanh khay, lệch, như tám cái đinh trên cổng. Đe cắm cái đinh đồng tinh xuống chính giữa khay, giữa đám cỏ. Gia Minh đặt một bát nước lên cái lò than nhỏ cạnh đó.
Rồi cả hai lùi ra, buông tay.
Không ai chạm vào gì cả. Hai mươi tám cây Thanh Hòa thảo trong khay khẽ nghiêng về phía cái đinh ở giữa, như lúa rạp theo gió. Rồi bát nước trên lò than nhấc lên. Chậm. Phẳng lặng. Không ánh sáng nào. Nó lơ lửng ở đó trong khi một nén hương mới được thắp lên, cháy, và tàn.
Đám cỏ trong khay vẫn xanh. Cây nào cũng như đang thở, chậm, đều.
Bà Nhữ Thị Cẩn quỳ xuống bên khay đất. Bà đặt bàn tay già nua lên mặt đất, cạnh gốc cỏ, nhắm mắt.
– Trận lấy ruộng làm nguồn. – Bà nói, không với ai. – Không đổ một chút linh lực nào của người.
Bà đứng dậy. Bà nhìn Đe.
– Tùng Khê Tông. Mười điểm.
Ông Lạc mở miệng định nói gì. Bà Cẩn quay sang nhìn ông, chỉ nhìn. Ông ngậm miệng lại.
Thanh Dương Môn tám điểm. Tổng ba vòng: Tùng Khê Tông hai mươi bảy, Thanh Dương Môn hai mươi ba. Không tông nào khác quá hai mươi.
Lễ bế mạc vào giờ Dậu, ở sân Đài Trận. Một người của Hội đặt vào tay Gia Minh một cái túi gấm nặng trĩu, kèm một tờ biên nhận. Ba nghìn linh thạch hạ phẩm. Gia Minh ký tên. Tay anh ta run tới mức nét chữ xiêu vẹo.
Lúc mọi người tản ra, bà Cẩn đi tới chỗ Đe.
– Cái đinh ấy cho ai? – Bà hỏi.
Đe nghĩ một lúc.
– Cho sư phụ con nghỉ ạ.
Bà Cẩn im lặng. Rồi bà nói, giọng thấp hẳn đi.
– Về bảo Khuất Bá Nhàn: bốn mươi hai năm trước, ông ấy gửi hạc lên Hội xin người. Hội tới chậm ba ngày. Ta là người đi chậm. – Bà quay đi. Đi được mấy bước, bà dừng lại, nói thêm, không quay đầu. – Bảo ông ấy ta xin lỗi.
Đe đứng nhìn theo bà. Gia Minh đứng cạnh nó, ôm cái túi gấm vào ngực như ôm con.
– Giờ về bằng gì? – Gia Minh nói. – Thuyền bay đêm, thuê chiếc nào cũng phải trăm tám. Mình có tám mươi.
– Lấy ba nghìn ra mà thuê.
– Thì không đủ trả nợ.
Hai đứa đứng nhìn nhau giữa sân Đài Trận đang tối dần.
– Thuyền của ta đậu ở bến bắc.
Cả hai quay lại. Trưởng lão Diêm Bá Toại đứng sau lưng họ, áo bào xanh thẫm, tay cầm một con hạc giấy đã mở bung, giấy vàng của ngoại vụ đường.
– Hạc của Sính về rồi. – Ông nói. – Núi rung suốt từ chiều qua. Lên không?
— Hết chương 17 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe