Chương 6: Cái máy khâu dưới gầm phản
Dưới gầm phản, sau ba cái chum muối dưa, có một cái máy khâu trùm bao tải.
Dương tìm thấy nó vì quả bóng bằng lá chuối khô của cái Mít lăn vào đấy. Cô bò vào, quờ tay, chạm phải một cái bánh xe gang lạnh ngắt. Cô kéo bao tải ra. Bụi bay mù mịt. Bên dưới là một cái đầu máy khâu màu đen, sơn tróc từng mảng, gắn trên một cái bàn gỗ có bàn đạp sắt uốn hoa. Dây curoa đứt, rủ xuống như sợi dây phơi mục. Kim gãy. Gỉ sét bám đỏ quanh trục.
Cô ngồi thụp xuống nền đất, nhìn nó rất lâu, như người ta nhìn thấy một người quen ở nơi không ngờ tới. Ở xóm bãi sông Hồng, bà ngoại cô cũng có một cái máy đạp chân y như thế, cũng bàn đạp sắt uốn hoa, cũng cái bánh đà gang to bằng cái đĩa. Năm cô lên tám, bà cho cô ngồi lên ghế đạp thử, chân không chạm tới bàn đạp, bà phải đạp hộ.
– Máy của u đấy. – Giang nói, ló đầu qua cửa. – Bố mua năm Mậu Ngọ, bán hai con lợn với tiền công hai năm đi làm thủy lợi. Ngày trước u làm tổ trưởng tổ may của hợp tác xã. Bố mất thì u không may nữa.
– Sao không may nữa?
Giang nhún vai.
– Dây đứt, u bảo hỏng. Em bảo u mua dây mới, u quát em.
Ba hôm trước, khi Liễn hỏi "thím không nhớ thật à", Dương đã trả lời thật: từ hôm ngã ao, có nhiều chuyện cô không nhớ. Liễn nhìn cô như nhìn một người vừa được trả lại từ cõi khác, nửa nhẹ nhõm nửa sợ hãi, rồi không nói gì nữa. Từ hôm ấy chị đối với cô tử tế hơn hẳn, bế cái Mít xuống bếp ngồi với cô, đưa cô cái cặp tóc nhựa đỏ của mình. Nhưng mỗi lần Dương định hỏi gì về năm ngoái, chị lại lảng sang chuyện khác.
Dương thôi hỏi. Có những cánh cửa không đẩy được bằng tay. Phải tìm chìa.
Còn bây giờ, trước mặt cô có một thứ đẩy được bằng tay.
Hôm sau, đi bán cơm nắm về, cô ghé cửa hàng mua bán của hợp tác xã ở đầu chợ Gàu. Cửa hàng là một gian nhà gạch có quầy gỗ dài, kệ phía sau bày lèo tèo mấy bánh xà phòng, mấy cuộn chỉ, mấy bao diêm, một ít đường phèn trong lọ thủy tinh. Mùi dầu hỏa nồng nặc. Bà bán hàng, bà Sinh, người to béo, cổ đeo cái kính lão buộc dây, đang đong dầu cho một ông khách bằng một cái ca nhôm có tay cầm dài.
– Một lít. – Bà nói, dốc ca vào cái chai của ông khách qua cái phễu. – Đủ nhé, không thiếu giọt nào.
– Ai biết bà đong thiếu hay đủ. – Ông khách cười.
– Biết chứ. – Bà Sinh giơ cái ca lên, chỉ vào một cái dấu chì nhỏ kẹp ở tay cầm. – Ca này có dấu kiểm định của trên tỉnh, một lít là một lít. Ông mang về đong lại bằng gì thì đong.
Dương đứng nhìn cái ca ấy lâu hơn cần thiết. Rồi cô mua nửa chai dầu hỏa, một lọ dầu máy bé bằng ngón tay cái, hai cái kim máy khâu và một cuộn chỉ trắng. Hết gần nửa số tiền lãi ba ngày cơm nắm.
Buổi chiều, khi bà Cử ra đồng làm cỏ lúa, cô với Giang khiêng cái máy ra hiên. Cô tháo từng bộ phận: tấm mặt nguyệt, ổ suốt, thoi, răng cưa đẩy vải. Giang ngồi xổm bên cạnh, nhìn chằm chằm, chốc chốc lại hỏi cái này là cái gì, cái kia để làm gì. Dương nhúng giẻ vào dầu hỏa, chà từng chỗ gỉ. Gỉ bong ra thành vụn nâu. Cô lau khô, nhỏ dầu máy vào từng lỗ tra dầu, xoay bánh đà bằng tay. Lúc đầu nó kêu ken két. Xoay thêm mấy chục vòng thì tiếng ken két nhỏ dần, chỉ còn tiếng lách tách trơn tru.
– Còn dây? – Giang hỏi.
Dương đã nghĩ đến chuyện đó. Dây curoa máy khâu đạp chân là một sợi dây da tròn, nối hai đầu bằng một cái kẹp sắt. Cô không có dây da. Nhưng cô biết bà ngoại từng thay bằng thứ gì những năm không mua được dây.
Tối, Đằng về, cô hỏi anh có dây dù không. Anh nhìn cô một lúc, rồi đi vào buồng, lục trong cái ba lô bộ đội cũ treo trên vách, mang ra một cuộn dây dù màu xanh rêu.
– Dây dù pháo sáng. – Anh nói. – Ngày ở đơn vị, đứa nào cũng giữ một ít.
Cô cắt một đoạn, tước ruột, bện ba sợi lõi lại với nhau cho tròn và chắc. Rồi cô đo vòng quanh bánh đà lớn với cái bánh xe nhỏ trên đầu máy, cắt, nối hai đầu bằng cách khâu chồng mép, quấn chỉ thật chặt. Đằng ngồi xổm cầm đèn soi cho cô. Anh không nói gì, nhưng mỗi lần cô với tay tìm cái kéo thì anh đã đưa cái kéo ra trước.
Cô lắp dây. Đặt chân lên bàn đạp. Đạp.
Cái bánh đà quay. Kim lên xuống. Tạch tạch tạch tạch. Âm thanh ấy vang ra hiên, ra sân, đều đặn như mưa rơi trên mái tôn.
Giang vỗ tay. Đằng ngồi im, nhìn cái máy, rồi nhìn cô.
Tiếng guốc ngoài cổng dừng lại.
Bà Cử đứng ở cổng, cái nón lá trên tay, ống quần ướt đến gối. Bà đứng im như trời trồng. Rồi bà đi vào, chậm, từng bước, như đi trên mặt ao đóng váng. Bà đến trước cái máy, đặt bàn tay lên mặt bàn gỗ, rồi lên cái đầu máy đen bóng dầu.
– Ông ấy mua năm Mậu Ngọ. – Bà nói, rất khẽ, không phải nói với ai. – Ông ấy đạp xe ba chục cây số đi lấy về, buộc trên giá xe, mưa ướt hết, về đến nhà ông ấy lấy áo lau.
Không ai nói gì. Bà Cử đứng thêm một lúc. Rồi bà kéo một mảnh vải vụn trong rổ, gập đôi, luồn dưới chân vịt, đặt chân lên bàn đạp. Máy chạy. Mũi chỉ chạy thành một đường thẳng tắp trên mảnh vải. Bà dừng, lật mảnh vải, nhìn mặt dưới, rồi vặn cái núm căng chỉ một nấc.
– Chỉ dưới lỏng. – Bà nói. – Mày đạp lệch nhịp.
Rồi bà đi vào nhà, không nói thêm câu nào. Dương nghe thấy, mãi lâu sau, trong buồng bà, có tiếng ai đó hỉ mũi.
Cái thứ đầu tiên Dương may là một cái địu.
Liễn ra đồng làm cỏ, không có ai trông cái Mít, phải để con ngồi trên bờ ruộng, chốc chốc lại chạy lên xem. Con bé ba tuổi vừa khỏi ốm, chân còn yếu. Dương lấy cái áo bông cũ rách của ông Hoạch, bố chồng đã mất, mà bà Cử vẫn để trong rương, xin bà. Bà nhìn cô một lúc, rồi đưa. Cô tháo lấy hai lớp vải chéo dày, cắt thành một tấm hình chữ nhật cho chỗ ngồi của đứa trẻ. Cô may thêm bốn cái dải dài bắt chéo qua vai qua lưng người lớn, chỗ đỡ mông may hai lần chỉ cho chắc. Một tấm vải che đầu khi trời nắng thì cô làm bằng mảnh vải màn cũ.
Liễn đeo thử. Cái Mít ngồi gọn trên lưng mẹ, hai chân thò ra hai bên, cười khanh khách. Liễn cúi xuống, đứng lên, xoay người. Đứa bé không tuột.
– Ôi, đeo thế này thì làm cả ngày cũng được. – Liễn nói.
Hôm sau, Liễn đeo cái địu ra đồng. Hôm sau nữa, có hai bà ở xóm dưới đến cổng hỏi. Rồi bốn bà. Rồi chị Bưởi, con dâu bà Tần, lén lút đến lúc chập tối, mang theo cái áo của chồng làm vải.
Người ta trả bằng đủ thứ. Năm quả trứng gà. Một bơ gạo. Một bó rau ngót. Vài tờ bạc lẻ. Một bà mang đến một cái áo sơ mi trắng đã sờn cổ, hỏi có lộn được cổ không. Dương lộn cổ. Tháo cổ áo ra, lật mặt trái đã sờn vào trong, mặt trong còn mới ra ngoài, may lại. Bà kia cầm cái áo, lật đi lật lại, không tin.
– Như áo mới.
Tin ấy chạy khắp xóm nhanh hơn tin say sắn. Người ta mang đến quần áo cũ, quần dài của chồng rách gối, áo của con lớn mặc chật. Dương dạy Giang cắt ống quần dài người lớn thành quần đùi cho trẻ con, áo người lớn thành áo cộc cho trẻ con. Cô dạy con bé kẻ đường cắt lên vải bằng một mẩu xà phòng mài mỏng, thứ bà ngoại cô vẫn dùng thay phấn may.
Đến lúc tính vải thì Dương mới ngạc nhiên. Cô đưa cho Giang một cái quần dài của đàn ông, hỏi xem cắt được mấy cái quần đùi cho đứa năm tuổi. Con bé lấy sợi dây đo, đo ống quần, đo cạp, đo đùi đứa bé hàng xóm, nhẩm một lúc, rồi nói:
– Được hai cái rưỡi. Nhưng nếu lấy cái lưng quần làm cạp cho cả ba cái, nối thêm một miếng ở đũng thì được ba cái.
Dương ngồi xuống cạnh con bé, nhìn nó.
– Em học đến lớp mấy?
– Hết lớp chín. – Giang cúi xuống, gạch một đường xà phòng lên vải. – Năm ấy em đứng đầu lớp môn Toán. Thầy bảo em đi thi lên cấp ba trên thị trấn. Nhưng bố mất rồi, nhà không có tiền.
Con bé nói bằng cái giọng của người đã kể chuyện ấy nhiều lần, cho chính mình.
Dương không nói gì. Cô chỉ đưa cho Giang thêm một cái quần nữa.
Một buổi chiều cuối tháng Ba âm lịch, khi cô đang ngồi máy may dở cái địu thứ chín, có một cô gái đạp xe đến cổng. Cô gái mặc áo sơ mi trắng, quần lụa đen, tóc tết một bím dài, đội cái mũ cói vành rộng. Mặt trắng, cằm nhỏ, mắt to. Trong cái làng này, Dương chưa thấy ai ăn mặc sạch sẽ thế.
– Chị là chị Rươi phải không ạ? – Cô gái hỏi, giọng nhỏ nhẹ. – Em là Nguyệt, dạy ở nhà trẻ hợp tác xã. Em có cái áo này bị rộng quá, chị sửa hộ em được không ạ?
Nguyệt rất dễ mến. Cô ngồi ở hiên trong lúc Dương đo, hỏi chuyện cái máy, khen cái địu, ôm cái Mít lên lòng, chỉ cho nó đếm ngón tay. Cô kể rằng nhà trẻ hợp tác xã từ sau Tết đã đóng cửa vì hợp tác xã không có thóc trả cô nuôi. Cô vẫn đến dạy không công cho năm sáu đứa nhỏ ở xóm trên, vì không đành lòng.
Đang chuyện thì có tiếng xe đạp khác ở ngoài cổng. Một người đàn ông chừng năm mươi, mặc áo sơ mi bỏ trong quần, đội mũ phớt màu cháo lòng, đẩy xe vào. Người ông tầm thước, mặt tròn trắng, môi lúc nào cũng như sắp mỉm cười.
– Con Nguyệt nhà tôi làm phiền nhà bà Cử phải không? – Ông nói, giọng ôn tồn. – Tôi đi qua, tiện đón nó về.
– Bố em đấy chị. – Nguyệt nói. – Bố em làm thủ kho hợp tác xã.
Ông Thược. Dương biết cái tên ấy trước khi Nguyệt nói, vì cái thân này co lại khi ông bước vào sân, như con ốc rụt vào vỏ.
Ông Thược đứng ở hiên, nhìn cái máy khâu, gật gù khen. Nhìn cái địu, khen. Nhìn mấy cái quần đùi xếp trên phản, khen. Ông nói chuyện với Dương như nói với một đứa cháu, hỏi bố cô dạo này kéo được nhiều cá không, hỏi Đằng ở lò gạch có vất vả không.
Rồi mắt ông dừng lại ở cái đinh cạnh cửa buồng, nơi cái áo bộ đội của Đằng vẫn treo.
Ông nhìn nó một lúc. Rồi ông mỉm cười, cái mỉm cười như lúc nào cũng sẵn trên môi.
– Áo thằng Đằng còn đủ cúc nhỉ. – Ông nói.
Rồi ông dắt xe ra. Nguyệt đạp xe theo sau bố, ngoái lại vẫy tay chào cái Mít.
Dương ngồi bên máy khâu, chân vẫn đặt trên bàn đạp, rất lâu không đạp được. Trên cái áo treo trên đinh, cái cúc nhựa trắng ở giữa hàng cúc đồng bắt chút nắng chiều, sáng lên một đốm nhỏ.
— Hết chương 6 —

⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe