Chương 2: Nồi sắn mở vung
Gà gáy lần thứ hai thì cái thân này tự ngồi dậy, trước cả khi Dương kịp tỉnh.
Cô thấy mình đã ngồi bên bếp, tay đã vơ nắm rơm, đã quẹt diêm, như thể có một sợi dây buộc từ tiếng gà sang hai bàn tay. Cả nhà còn ngủ. Ngoài sân, sương xuống trắng mấy ngọn rơm. Đằng đã đi từ lúc nào, chiếu ở gian ngoài cuộn gọn dựng vào chân cột.
Dương đứng trước cái chum sành đựng thóc ở góc bếp, mở nắp. Cái bơ đong bằng sắt tây nằm trên mặt thóc. Cô biết ngay đây là việc đầu tiên phải làm, việc cô vẫn làm mỗi sáng ở bếp trung tâm: kiểm kho.
Cô thò tay vào chum, ấn xuống. Thóc chỉ ngập đến cổ tay thì đã chạm đáy. Cô lấy bơ đong, đổ ra một cái thúng, đếm. Hai mươi ba bơ, thêm nửa bơ vét. Cô nhấc thử bơ thóc đầy lên tay, so với cân nặng của túi gạo một cân mà cô vẫn bê hàng nghìn lần. Chừng tám lạng. Vậy là chưa đến hai mươi cân thóc, xay ra được chừng mười hai, mười ba cân gạo.
Nhà bảy miệng ăn. Hai người đàn ông làm việc nặng. Một đứa trẻ ba tuổi.
Cô đổ thóc trở lại chum, đậy nắp, ngồi xuống bậc bếp mà tính. Hôm nay là mồng tám tháng Hai. Lúa chiêm ngoài đồng mới đứng cái, ít nhất giữa tháng Tư âm mới gặt, tức là còn hơn hai tháng. Trong góc bếp còn hai bao tải sắn khô và một thúng sắn tươi. Nếu mỗi ngày chỉ xay một bơ thóc, nấu độn với sắn, cả nhà sẽ hết gạo trong ba tuần. Sau đó chỉ còn sắn. Rồi hết sắn.
Cô từng làm bảng tính tồn kho cho một bếp ba nghìn suất, chưa bao giờ phải tính cho một cái chum.
– Mày làm gì đấy?
Bà Cử đứng ở cửa bếp, tóc chưa vấn, xõa dài bạc một nửa.
– Con đếm thóc ạ.
– Thóc nhà tao, mày đếm làm gì? Định đếm xem lúc về thuyền mang đi được bao nhiêu à?
Dương không cãi. Cô đã nhận ra cãi với bà Cử cũng như ném đá vào bờ ao: đá chìm, bờ ao vẫn thế.
– Con định ngâm sắn tươi, u ạ. Sắn ngâm một đêm thì mai luộc ăn đỡ đắng, không ai bị say.
– Ngâm thì tốn nước. Nước phải gánh từ giếng đầu xóm lên, mày gánh à?
– Con gánh.
Bà Cử nhìn cô một lúc, như nhìn một con lợn tự dưng biết nói. Rồi bà quay đi, không bảo được cũng không bảo không.
Dương gánh bốn gánh nước từ cái giếng khơi đầu xóm. Đôi vai của Rươi quen đòn gánh, không đau, nhưng hai chân thì run vì đói. Dọc đường, mấy người đàn bà đi chợ sớm đứng lại nhìn cô. Một bà buột miệng:
– Ơ, con vạn nhà bà Cử chưa về thuyền à?
Cô đi qua, không ngoảnh lại.
Về nhà, cô bóc sắn. Cô bóc cả lớp vỏ ngoài màu nâu lẫn lớp vỏ lụa hồng bên trong, chặt khúc, ngâm vào hai cái chậu sành. Phần sắn để luộc ngay hôm nay thì cô cho vào nồi, đổ nước ngập, đun, không đậy vung. Khi nước sôi bùng lên, nổi bọt trắng ngà, cô chắt bỏ, đổ nước mới, luộc tiếp.
Liễn bế con xuống bếp, đứng nhìn.
– Thím đổ nước sắn đi đấy à?
– Nước đầu có độc chị ạ. Đổ đi thì sắn hết đắng.
– Ai dạy thím thế?
Dương ngập ngừng. Cô không thể nói một người giảng viên an toàn thực phẩm ở Hà Nội năm 2015 dạy cô thế.
– Ngày trước dưới thuyền, có người luộc như thế. – Cô nói.
Liễn không hỏi thêm. Chị ngồi xuống cạnh bếp, đặt cái Mít lên đùi. Con bé giơ tay đòi với cái vung nồi. Liễn gạt tay nó ra, nhưng mắt vẫn nhìn nồi sắn.
Bữa sáng, nồi sắn luộc hai nước bày ra mâm. Ruột trắng tinh, bở tơi, không còn mùi đắng. Bà Cử cầm một khúc, cắn, nhai chậm. Bà không nói gì. Giang ăn một khúc rồi với thêm khúc nữa, thêm khúc nữa.
– Ngon hơn hôm qua đấy u. – Con bé nói.
– Ngon thì ăn, nói lắm. – Bà Cử đáp. Nhưng bà không bảo Dương đổ chậu sắn ngâm đi.
Nắng lên, Dương thu quần áo bẩn đi giặt. Trên cái đinh cạnh cửa buồng vẫn treo cái áo bộ đội của Đằng. Cô gỡ xuống. Khuỷu tay trái đã rách một đường dài, mép sờn, bông vải tòe ra. Cô định giặt rồi vá lại.
Cô trải cái áo lên phản, theo thói quen nhìn từ cổ xuống gấu như bà ngoại vẫn dạy: nhìn áo thì nhìn đường may trước, nhìn khuy sau. Bà ngoại cô làm thợ may ở xóm bãi sông Hồng bốn mươi năm.
Trên vai trái có một miếng vá nâu đất, đường chỉ to và vụng, chẳng giống tay người quen may. Hai túi ngực, mỗi túi có một nắp, mỗi nắp một cúc đồng. Hàng cúc phía trước có năm cái. Cái thứ nhất ở cổ, đồng. Cái thứ hai, đồng. Cái thứ ba không phải đồng.
Đó là một cái cúc nhựa trắng đục, bốn lỗ, loại người ta bán ở hàng kim chỉ ngoài chợ, chỉ đơm còn mới, màu chỉ đen khác hẳn màu chỉ xanh của mấy cái cúc còn lại. Ai đó đã đơm nó vào thay cho một cái cúc đồng bị mất. Đơm khéo, mũi chỉ đều, quấn chân cúc ba vòng cẩn thận, thứ khéo tay của người quen may.
Ngón tay Dương dừng lại trên cái cúc nhựa ấy. Trong ruột gối buồng bên, cách cô năm bước chân, có một cái cúc đồng bọc trong mảnh vải.
– Ai khiến!
Cái áo bị giật khỏi tay cô. Bà Cử đứng sau lưng, không biết từ bao giờ. Bà ôm cái áo vào ngực, hai tay vo nó lại.
– Ai khiến mày động vào đồ của nó? Mấy tháng nay có bao giờ mày thèm động vào cái áo này đâu?
– Con thấy áo rách khuỷu, con định vá.
– Không phải vá. Nó mặc thế quen rồi.
Bà treo cái áo lại lên đinh, chỉnh cho ngay ngắn, rồi đứng chắn trước nó, như đứng chắn trước một đứa trẻ. Dương nhìn bàn tay bà đặt trên vai áo. Những ngón tay to, đầu ngón có vết chai của người cầm kim lâu năm.
– Vâng. – Cô nói.
Cô đi giặt chỗ quần áo còn lại. Ngồi ở cầu ao, cô vò từng cái áo, cố nghĩ. Một bà mẹ không cho con dâu vá áo cho con trai mình. Một cái cúc nhựa đơm khéo vào chỗ cái cúc đồng mất. Một cái cúc đồng giấu trong gối của con dâu. Đầu cô không ghép được ba thứ ấy với nhau, nhưng cái thân này thì có. Mỗi lần cô nghĩ đến cái áo, bụng cô lại thắt lại, một nỗi sợ không có hình dạng, như sợ một khúc sông tối.
Gần trưa, có tiếng gọi ngoài hàng rào:
– Rươi ơi!
Giọng đàn ông, khàn, kéo dài chữ cuối như tiếng gọi đò. Cái thân này đứng bật dậy, chậu quần áo suýt lật.
Một người đàn ông chừng năm mươi đứng ngoài hàng rào dâm bụt, không bước vào. Người ông thấp, lưng còng, da cháy đen như gỗ trét dầu. Ông mặc cái áo nâu vá vai, quần xắn đến gối, chân đất. Tay ông xách một cái giỏ tre có quai, nước rỉ ra từ đáy giỏ thành giọt. Đứng cạnh ông là một thằng bé mười bốn tuổi gầy nhom, tóc cháy vàng, mắt láo liên.
Bố. Cái thân này nhớ ra trước. Ông Lềnh. Và thằng Nổi, em trai.
Dương đi ra. Ông Lềnh nhìn cô từ đầu xuống chân. Mắt ông đỏ, viền mắt nhăn như vỏ cây.
– Nghe nói con ngã ao. – Ông nói. – Thằng Nổi nó đi bán cá trên chợ, người ta bảo.
– Con không sao bố ạ.
– Không sao thì sao gầy thế kia? – Ông hạ giọng, mắt liếc vào trong nhà. – Nhà nó có cho con ăn không?
Dương không trả lời. Ông Lềnh hiểu. Ông đứng im một lúc, rồi đưa cái giỏ qua hàng rào.
– Cá mương với tép bố kéo được sáng nay. Con cầm lấy.
Rồi ông nói thêm, rất khẽ, như sợ người trong nhà nghe:
– Con về thuyền với bố không? Thuyền chật thì chật, có con cá con tép, không ai chửi con.
Thằng Nổi kéo áo bố. Nó nhìn Dương bằng con mắt của đứa em nhớ chị.
Cái thân này muốn gật. Dương cảm thấy rõ, cái gật đầu ấy dâng lên tận cổ. Nhưng cô nghĩ đến cái chum thóc chỉ ngập đến cổ tay, đến củ khoai nướng đặt trên kiềng, đến cái cúc nhựa trắng đơm vội trên áo người chồng mà cô chưa nói với được mười câu. Có một chuyện gì đó ở trong nhà này chưa xong. Đi bây giờ thì sẽ không bao giờ biết.
– Con ở, bố ạ. – Cô nói.
Ông Lềnh nhìn cô thật lâu, như nhìn một người khác. Rồi ông gật đầu, kéo thằng Nổi đi xuống phía đê.
Dương xách giỏ cá vào. Bà Cử đứng giữa sân, nhìn cái giỏ.
– Cá của vạn thì mang về thuyền mà ăn. Nhà tao không ăn của bố thí.
– Bố con biếu u, không phải bố thí ạ.
– Biếu cái gì? Năm ngoái cưới mày, nhà nó dẫn được cái gì sang? Hai cân cá khô với một buồng cau. Cả làng cười vào mặt tao.
Bà quay vào nhà. Dương đứng giữa sân với cái giỏ cá nhỏ nước tong tỏng.
Liễn bế con ra, nhìn quanh, rồi thì thầm:
– Thím làm đi. Cái Mít ba hôm nay không có miếng tanh nào.
Dương làm cá. Cá mương nhỏ bằng hai ngón tay, cô đánh vảy, mổ bụng, rửa với nước muối cho hết nhớt. Cô tìm trong bếp được một nhánh riềng khô, mấy củ hành tăm, nửa bát tương, một ít mỡ lợn đông trắng trong cái hũ sành mà bà Cử hẳn đang dành cho Tết Thanh minh. Cô chỉ lấy một thìa con.
Cô xếp cá vào cái nồi đất, lót dưới đáy mấy lát riềng, rưới tương, thêm tí muối, đun lửa liu riu bằng rơm vê nắm. Tép thì cô rang khô với mấy lá chanh vặt ở bờ rào. Nửa giờ sau, mùi cá kho riềng tương bò ra khỏi bếp, lan qua sân, bay sang bên kia hàng rào dâm bụt.
Bà Tần thò đầu qua rào:
– Nhà bà Cử hôm nay có giỗ à?
Không ai trả lời bà.
Bữa trưa, nồi cá kho đặt giữa mâm cạnh rổ sắn. Bà Cử ngồi xuống, nhìn nồi cá, rồi nhìn Dương ở bậc cửa bếp.
– Ai bảo mày dùng mỡ?
– Con dùng một thìa thôi ạ.
Bà Cử không nói nữa. Bà gắp một con cá đặt vào bát cái Mít, gỡ xương cho cháu. Rồi bà gắp một con cho Giang. Một con cho Liễn. Bà để lại phần cho Tuệ và Đằng tối về. Đến lượt mình, bà chỉ chan một thìa nước kho vào bát sắn. Bà ăn chậm, mắt nhìn xuống bát.
Giang thì không khách sáo. Con bé ăn hai con cá, liếm đũa, rồi quay sang Dương:
– Chị Rươi ơi, ở dưới thuyền người ta kho cá thế này à?
– Ừ.
– Thế sao trước giờ chị không kho?
Dương không trả lời được. Bà Cử cũng ngẩng đầu, chờ câu trả lời ấy.
Chiều, cô mang cái giỏ đi rửa ở ao, trong đầu bắt đầu chạy một thứ quen thuộc như hơi thở. Ông Lềnh mỗi ngày kéo được độ vài cân cá con, bán ở chợ Gàu được mấy đồng bạc lẻ. Lò gạch bãi Nổi có mấy chục thợ, trưa không ai về nhà, ăn cơm nắm muối vừng hoặc nhịn. Một nắm cơm, một khúc cá kho, một nhúm tép rang. Cô biết cách tính giá một suất ăn đến từng đồng. Cô biết cách nấu một trăm suất trong một buổi sáng. Thứ cô không có là gạo, và tiền mua gạo.
Tối, Tuệ về trước. Anh là người đàn ông cao to hơn Đằng, mặt tròn, cười dễ, vai đỏ lừ vì đòn gánh. Anh ăn ba con cá, khen ngon, xoa đầu con gái. Đằng về muộn, ăn phần mình trong bếp, lặng lẽ, không khen không chê, nhưng ăn sạch đến khúc sắn cuối cùng.
Đêm ấy, Dương ra sau bếp lấy nước rửa chân. Cửa bếp khép hờ. Bên trong có tiếng thì thầm, của Liễn và của bà Cử.
– U để nó ở lâu thế này… – Liễn nói. – Lỡ nó nói ra thì sao hả u?
Một lúc lâu không có tiếng ai. Rồi giọng bà Cử, khàn và thấp, khác hẳn cái giọng chửi bới ban ngày:
– Nó biết cái gì mà nói. Mà có biết thì hết tháng này nó cũng về thuyền. Chị đi ngủ đi.
Dương đứng trong bóng tối sau bếp, cái gáo nước lạnh ngắt trong tay, cho đến khi tiếng guốc của Liễn đi xa.
— Hết chương 2 —

⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe