Chương 4: Nước sắn đổ xuống rãnh
Cái thúng bay qua sân, đập vào gốc cau, lá chuối gói cơm văng ra tung tóe.
– Mày làm nhục nhà tao chưa đủ à? – Bà Cử đứng giữa sân, ngực phập phồng. – Cả xóm nó đứng ngoài ngõ chỉ trỏ kia kìa! Con dâu nhà bà Cử nấu cơm cho người ta ăn rồi khiêng lên trạm xá!
Dương đứng ở cầu ao, rổ gạo vo dở còn trên tay. Mấy cái đầu nhấp nhô sau hàng rào dâm bụt. Có tiếng xì xào. Có tiếng cười khẩy.
– U ơi, con không làm gì sai.
– Không sai thì ai sai? Người ta ăn cơm của mày rồi nôn, không phải mày thì là ma à?
Giang chạy ra nhặt cái thúng, đứng nép sau gốc cau. Liễn bế con đứng ở hiên, môi mím chặt.
Dương đặt rổ gạo xuống bậc ao. Cô đi qua sân, qua mặt bà Cử, ra cổng.
– Mày đi đâu?
– Con lên trạm xá.
– Mày lên đấy làm gì? Người ta đánh cho thì sao?
– Thì con chịu. Nhưng con phải biết họ ăn cái gì.
Cô đi. Giang buông cái thúng, chạy lạch bạch theo sau.
Trạm xá xã Đông Vạn là một dãy nhà cấp bốn quét vôi vàng, mái ngói, cạnh ủy ban, có cái sân đất trồng mấy cây xoan. Ở hiên có hai cái giường tre. Hai người thợ lò nằm trên đó, mặt tái, một người ôm bụng. Người thứ ba nằm trong buồng. Mấy người nhà ngồi xổm ở sân, thấy Dương đi vào thì đứng cả dậy.
– Con vạn nhà bà Cử đấy!
Một bà già lao tới. Dương không lùi. Bà già vung tay, nhưng một người đàn ông mặc áo blu trắng đã bước ra kịp, chắn giữa.
– Bà ơi, bà ơi, trạm xá đây, bà để cháu làm việc.
Người ấy chừng ba mươi tuổi, gầy, đeo kính gọng nhựa đen, cái áo blu cũ cài thiếu một khuy. Anh nhìn Dương.
– Cô là người bán cơm ở lò gạch?
– Vâng. Em muốn hỏi anh mấy anh ấy bị làm sao.
Y sĩ Tuân, cái tên thêu chỉ đỏ trên túi áo, nhìn cô một lúc, rồi hất đầu về phía cái bàn gỗ đặt ở góc hiên.
– Cô ngồi đây.
Anh hỏi cô đã nấu gì, nấu lúc nào, cá gì, kho thế nào, gói thế nào. Dương trả lời từng câu. Rồi cô hỏi lại:
– Anh ơi, mấy anh ấy bị từ mấy giờ? Có đau quặn bụng, có đi ngoài nhiều không? Có sốt không?
Tuân nhướng mày.
– Chóng mặt, buồn nôn, nôn từ khoảng nửa đêm. Mặt đỏ, tim đập nhanh. Không đi ngoài nhiều, không sốt.
– Mấy giờ thì mấy anh ấy ăn?
– Chiều qua, lúc tan lò, chừng năm giờ.
Dương nhìn anh.
– Em mang cơm ra lúc mười một giờ trưa, anh ạ. Đến năm giờ chiều thì không còn nắm nào.
Tuân im một lúc. Rồi anh đứng dậy, đi vào buồng trong. Dương nghe tiếng anh hỏi khẽ người thợ nằm trong đó. Một lúc sau anh đi ra, gọi người thợ trẻ nằm trên giường tre ngoài hiên.
– Này Cối. Chiều qua tan lò mày ăn gì?
Người thợ trẻ, đúng là anh chàng đeo cái khăn mặt đen hôm đầu, ngóc đầu dậy, mặt nhăn nhó.
– Bánh sắn ạ. Cơm nắm hết từ trưa, em mua ba cái bánh sắn ăn đỡ.
– Hai đứa kia cũng thế à?
– Vâng. Ba đứa em ăn cùng.
– Thế trưa mày có ăn cơm nắm không?
Anh chàng ngập ngừng.
– Trưa em không mua được. Em đến muộn.
Tuân quay sang Dương. Mặt anh không lộ gì, nhưng giọng anh dịu đi một chút.
– Triệu chứng này tôi thấy giống say sắn hơn. Ngộ độc thức ăn ôi thiu thường đau bụng, đi ngoài, nhiều khi sốt. Mấy đứa này thì chóng mặt, đỏ mặt, nôn, mạch nhanh. Mùa giáp hạt năm nào trạm cũng có vài ca thế này.
Ngoài sân, bà già lúc nãy đứng lặng, rồi quay mặt đi.
Người bán bánh sắn ở lò gạch, cả bãi Nổi ai cũng biết, chỉ có một người.
Trên đường về, Giang đi bên cạnh cô, bước chân rộn ràng như đứa trẻ vừa thắng một ván đánh khăng.
– Chị Rươi, chị đi thẳng sang nhà bà Tần đi. Chị đứng giữa ngõ mà nói. Cho cả xóm nghe. Sáng nay bà ấy réo khắp xóm, giờ chị réo lại.
Dương không trả lời ngay. Cô nghĩ đến khuôn mặt tròn đỏ gay của chị Bưởi ngồi cạnh thúng bánh sắn còn đầy. Nghĩ đến chuyện một người đàn bà mang bánh ra lò gạch bán, cả buổi không ai mua, vì một con vạn chài mới đến bán cơm nóng có cá. Đến chiều tan lò, thợ đói, mua bánh sắn ăn đỡ. Rồi nửa đêm thì nôn.
– Không phải bà Tần nấu bánh. – Cô nói. – Chị Bưởi nấu.
– Thì sao?
– Em mà là chị Bưởi, giờ em đang sợ lắm.
Giang nhìn cô, há miệng định cãi, rồi ngậm lại.
Nhà bà Tần ở đầu ngõ, ba gian nhà gạch, sân lát gạch chỉ, có cái bể nước mưa xây vuông. Lúc Dương đi qua, cổng nhà bà khép. Nhưng qua khe cổng, cô thấy chị Bưởi ngồi ở bậc thềm bếp, cạnh cái nồi đồng to, hai vai run. Cái nồi đậy vung kín.
Dương đứng ngoài cổng một lúc. Rồi cô đẩy cổng đi vào.
Chị Bưởi giật mình đứng dậy, chùi vội mặt bằng vạt áo.
– Cô vào đây làm gì?
– Em vào xem chị luộc sắn.
Chị Bưởi trừng mắt. Rồi mắt chị đỏ lên, và chị bật khóc, khóc như đứa trẻ bị bắt quả tang ăn vụng.
– Tôi có biết đâu. Tôi luộc như mọi khi. Ở nhà ăn có ai làm sao đâu…
– Ở nhà ăn no rồi mới ăn sắn, chị ạ. Thợ lò nhịn từ trưa, đói lả ra mới ăn. Lại ăn ba cái một lúc.
Dương mở vung cái nồi đồng. Mấy khúc sắn còn sót lại nằm trong đáy nồi, ruột vàng đục, vỏ lụa hồng còn dính gần hết. Nước luộc đặc sánh, màu ngà. Cô cúi xuống ngửi. Đắng.
– Chị luộc có đậy vung không?
– Đậy chứ. Không đậy thì bao giờ chín.
– Chị có thay nước không?
– Thay làm gì cho tốn củi?
Dương ngồi xuống cạnh chị Bưởi, trên bậc thềm bếp nhà người ta, và kể cho chị nghe từng bước cô đã làm ở nhà mình hôm trước. Bóc sạch lớp vỏ lụa hồng. Ngâm qua đêm, thay nước ngâm một lần. Luộc mở vung cho hơi độc bay đi. Sôi bùng lên thì chắt nước đầu, đổ nước mới. Không ăn khi bụng đói meo. Trẻ con với người yếu thì ăn ít.
– Còn nước luộc thì đổ xuống rãnh chị ạ, đừng cho lợn uống, đừng để gà vịt mổ.
Chị Bưởi ngồi nghe, thỉnh thoảng gật, mắt sưng húp.
– Cô không nói với ai à? – Chị hỏi khẽ.
– Nói gì ạ?
– Nói là bánh của tôi.
Dương nhìn ra cổng. Bà Tần đã đứng đó từ lúc nào, tay cầm cái chổi rơm, mặt sầm sì.
– Em không cần nói. – Cô đáp, đủ to cho bà Tần nghe. – Y sĩ Tuân nói rồi. Nhưng em nghĩ chị Bưởi cứ bán tiếp. Thợ lò cần ăn. Chị luộc đúng cách thì bánh sắn của chị vẫn bán được. Em bán cơm buổi trưa, chị bán bánh buổi chiều, không giẫm lên nhau.
Bà Tần không nói gì. Bà đứng chắn ở cổng thêm một lúc, rồi đi vào nhà, không nhìn ai. Cái chổi rơm bà vứt ở chân bể nước.
Chiều hôm ấy, y sĩ Tuân đạp xe ra lò gạch nói chuyện với ông Tửu. Dương không biết anh nói gì. Cô chỉ biết là tối đó, thằng Nổi chạy lên tận nhà, đứng ngoài rào gọi:
– Chị Rươi ơi, ông Tửu bảo mai chị cứ mang ba chục nắm ra. Ông bảo thợ ông đói, ông chịu không nổi.
Sáng hôm sau, ở giếng khơi đầu xóm, Dương gánh nước như mọi ngày. Mấy người đàn bà đang giặt, thấy cô đến thì ngừng tay. Không ai réo "con vạn" nữa. Một bà hỏi, giọng nửa ngờ nửa thật:
– Này, cô bảo luộc sắn phải chắt nước đi à? Thế thì tốn củi chết.
– Tốn củi còn hơn tốn tiền trạm xá bác ạ.
– Thế phải ngâm mấy đêm?
– Một đêm là được bác ạ.
Bà kia không nói thêm. Nhưng sáng hôm sau, đi ngang qua mấy nhà trong ngõ, Dương thấy có ba nhà đặt chậu sắn ngâm ngoài hiên.
Bà Tần thì không ngâm. Nhà bà vẫn đóng cổng. Nhưng chị Bưởi vẫn ra lò gạch bán bánh, bán vào buổi chiều, và Dương nghe nói bánh của chị giờ ăn bùi hơn, không còn đắng.
Bà Cử không nhắc lại chuyện cái thúng. Bà cũng không xin lỗi. Bà chỉ làm một việc: tối hôm ấy, bà để phần Dương một bát cơm độn sắn trên mâm, chứ không để cô ngồi vét nồi như mọi khi. Dương ngồi trên bậc cửa bếp, nhìn bát cơm ấy một lúc lâu mới ăn.
Hơn mười hôm êm ả trôi qua. Cơm nắm mỗi ngày ba chục suất. Tiền lãi Dương giữ trong cái ống bương cắm ở xà bếp, mỗi tối đếm lại. Cô trả Đằng đủ năm tờ bạc, lần này anh nhận, nhưng hôm sau cô thấy chúng nằm trong ống bương của mình. Cô không hỏi, anh cũng không nói.
Đêm hai mươi bảy tháng Hai, Dương đang ngủ thì nghe tiếng khóc. Không phải tiếng khóc thường của trẻ con, mà tiếng khóc rên rỉ, đứt quãng, yếu ớt như con mèo con.
Cô chạy sang buồng của vợ chồng Tuệ. Liễn đang ngồi ôm cái Mít, đèn dầu vặn to. Mùi chua nồng xộc lên. Chiếu ướt sũng. Cái Mít nằm lả trong lòng mẹ, mặt đỏ bừng vì sốt, nhưng môi thì khô nẻ, mắt lờ đờ.
– Nó đi ngoài từ chiều. – Liễn nói, giọng run bắn. – Sáu bảy lần rồi. Toàn nước.
Bà Cử đứng ở cửa buồng, tóc xõa, tay cầm cái quạt nan.
– Đi ngoài thì nhịn ăn. – Bà nói, giọng chắc nịch. – Nhịn uống. Uống vào lại tháo ra. Kiêng gió, kiêng nước, sáng mai tao lên xóm trên mời bà lang Mùi.
Dương cúi xuống nhìn cái Mít. Con bé mở mắt nhìn cô. Hai hốc mắt nó trũng sâu xuống, như ai lấy ngón tay ấn vào.
— Hết chương 4 —

⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe