AI Truyện
Cái cúc đồng trong ruột gối cô dâu

⏳ Trọng sinh & xuyên không

Tiếng loa chia ruộng

Cái cúc đồng trong ruột gối cô dâu · Chương 11/21 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 11: Tiếng loa chia ruộng

– Hộ bà Nguyễn Thị Cử, xóm Bến Mía. Sáu khẩu. Sáu suất.

Ông thư ký đọc to, rồi gạch một nét trên tờ giấy kẻ ô. Ở góc sân kho, Dương đứng sau lưng bà Cử, nghe rõ con số ấy rơi xuống như hòn đá rơi xuống giếng.

Sân kho chiều hôm ấy đông nghịt. Cả xã viên hợp tác xã Đông Vạn ngồi trên những tấm chiếu trải dưới nắng xế, đàn ông hút thuốc lào, đàn bà phe phẩy nón, trẻ con chạy lăng xăng. Trên cái bàn gỗ kê ở hiên kho, ông Bảng ngồi giữa, già, gầy, mái tóc bạc cắt ngắn, cái áo đại cán bạc màu cài kín cổ dù trời nóng. Bên cạnh ông là ông Thược, và mấy người trong ban quản trị. Sau lưng họ, trên tường kho, dán một tấm bản đồ ruộng vẽ tay trên giấy xi măng, chia thành những ô nhỏ đánh số.

Đã tháng Sáu âm lịch. Ba tháng trước, Dương đã tự mình đi đò sang xã bên kia sông xin giấy chuyển khẩu cho Rươi. Xã bên ấy cho giấy. Cô mang giấy về nộp ban quản trị hợp tác xã. Người nhận là ông Thược. Ông cầm tờ giấy, đọc kỹ, gật gù, rồi bảo còn thiếu xác nhận này, thiếu chữ ký kia, cứ để đấy ông lo. Một tháng sau cô hỏi lại, ông bảo đang lo. Đến tháng trước, ông bảo hồ sơ của dân vạn chài phức tạp, phải chờ trên xã duyệt.

Bây giờ thì sáu suất.

Bà Cử ngồi im trên chiếu. Dương nhìn gáy bà, cái gáy gầy, nổi gân, dưới búi tóc vấn khăn. Mấy tháng trước, bà sẽ quay lại mà nói "nhà này mất một suất ruộng vì mày", cho cả sân nghe. Bây giờ bà không quay lại.

Bà đứng dậy.

– Thưa ông Bảng. – Giọng bà Cử khàn, nhưng to. – Con dâu tôi về nhà tôi chín tháng rồi. Nó có giấy chuyển khẩu rồi. Sao không tính suất cho nó?

Cả sân im. Người ta quay lại nhìn bà, rồi nhìn Dương.

Ông Bảng quay sang ông Thược. Ông Thược mỉm cười, đứng dậy, hai tay chắp sau lưng.

– Bà Cử ạ, hồ sơ nhà bà còn thiếu. Dân vạn chài không có ruộng gốc, chuyển khẩu về đây là phải được xã duyệt, không như con gái trong làng đi lấy chồng trong làng. Bao giờ đủ giấy thì vụ sau bổ sung.

– Vụ sau là bao giờ?

– Bao giờ đủ giấy. – Ông Thược vẫn mỉm cười. Rồi ông nói thêm, nhỏ hơn, nhưng đủ cho bà Cử nghe: – Bà ngồi xuống đi. Chuyện nhà bà còn nhiều thứ phải lo hơn một suất ruộng.

Bà Cử đứng thêm một lúc. Dương thấy hai tay bà nắm chặt vạt áo. Rồi bà ngồi xuống.

Tối về, bà không nói gì suốt bữa cơm. Ăn xong, khi Dương đang rửa bát ở cầu ao, bà đi ra, đứng sau lưng cô.

– Tờ giấy chuyển khẩu. – Bà nói. – Mày còn giữ bản nào không?

– Con có chép lại một bản, u ạ.

– Đưa tao. Mai tao lên xã.

Dương quay lại. Bà Cử đã đi vào nhà.

Ruộng chia cho nhà bà Cử là sáu suất, ở cuối đồng, sát cái bãi sậy ven đê. Ruộng trũng, đất chua, cỏ năn mọc dày. Người trong xóm nhìn bản đồ, chép miệng: ruộng ấy năm nào nước lên cũng ngập trước, chiêm khê mùa thối. Ông Thược bốc thăm, người ta bảo vậy. Không ai chứng minh được ông bốc thế nào.

Đằng ra ruộng từ sáng hôm sau. Anh đắp lại bờ, khơi lại rãnh thoát nước ra phía bãi sậy. Tuệ làm cùng anh. Hai anh em làm cả ngày, không nói với nhau mấy câu, nhưng tay chân thì khớp với nhau như hai người đã làm cùng nhau từ bé.

Cấy vụ mùa thì Dương ra ruộng.

Đó là lần đầu tiên cái thân này cấy lúa. Rươi lớn lên trên thuyền, biết kéo lưới, biết chèo đò, biết vá lưới đến tối mắt, nhưng chưa từng cắm một rảnh mạ xuống bùn. Còn Dương thì chỉ nhìn thấy cấy lúa trên lịch treo tường của các văn phòng.

Cô cầm nắm mạ, lội xuống ruộng. Bùn ngập đến bắp chân, mát lạnh, nhầy nhụa. Cô cúi xuống, tách một rảnh mạ, ấn xuống. Rảnh mạ nổi lên. Cô ấn lại. Nó nghiêng sang một bên rồi nằm bẹp trên mặt nước.

Ở thửa bên, chị Liễn bật cười. Giang cười to hơn. Bà Cử đang cấy ở đầu bờ, ngẩng lên nhìn, lắc đầu, rồi cúi xuống cấy tiếp, tay thoăn thoắt như con gà mổ thóc.

Đằng lội sang.

– Không phải ấn. – Anh nói. – Cắm.

Anh đứng sau lưng cô, cúi xuống, cầm lấy tay cô. Bàn tay anh to, thô, chai cứng vì khuôn gạch, nhưng cầm tay cô rất nhẹ. Anh để ba ngón tay cô kẹp lấy gốc rảnh mạ, rồi đẩy tay cô xuống, cắm thẳng vào bùn, sâu chừng hai đốt ngón tay, rút tay ra nhanh. Rảnh mạ đứng thẳng.

– Thế. – Anh nói. – Cắm rồi rút, đừng ấn. Ấn thì bùn nó bật lên.

Anh vẫn cầm tay cô. Cô cảm thấy hơi thở anh ở sau gáy mình. Cả cánh đồng rộng thế, nắng chang chang thế, mà cô không nghe thấy gì ngoài tiếng nước róc rách quanh bắp chân.

Rồi anh buông tay, lùi lại một bước, cúi xuống cấy tiếp ở hàng bên cạnh. Tai anh đỏ lựng.

Cô cấy tiếp. Rảnh thứ hai nghiêng. Rảnh thứ ba đứng. Rảnh thứ tư đứng. Đến trưa, hàng mạ của cô vẫn lượn như con rắn bò, nhưng không cây nào nằm bẹp.

Lúc nghỉ trưa, hai người ngồi trên bờ ruộng, dưới bóng một cây gạo già. Liễn mang cơm nắm ra, rồi khéo léo dắt Giang với cái Mít đi chỗ khác. Bà Cử ngồi ở bờ bên kia, quay lưng lại.

– Cô có định ở lại không? – Đằng hỏi, nhìn ra cánh đồng.

– Ở lại đâu?

– Ở nhà này. – Anh nói. – Lúc mới về, cô ngày nào cũng nhìn ra sông. Tôi biết. Tôi tưởng cô chỉ chờ dịp về thuyền.

Dương nhìn ra phía con đê. Bên kia đê là sông. Cô nghĩ đến bếp trung tâm ở Long Biên, đến căn phòng thuê mười tám mét vuông trên tầng bốn, đến chậu cây lưỡi hổ trên bậu cửa sổ. Đến cái phiếu cân thịt lệch bốn cân bay lên trong ánh đèn huỳnh quang. Cô nghĩ, có lẽ đến giờ người ta đã dọn căn phòng ấy đi rồi.

– Em ở. – Cô nói.

Đằng không nói gì. Anh chỉ gật đầu, rất chậm, như sợ gật nhanh thì câu trả lời ấy bay mất.

Cái quán ở bến Mía mọc lên giữa tháng Sáu.

Dương đã tính từ lâu. Đầu bến đò Mía, nơi con đò ngang chở người qua sông sang chợ bên kia, có một khoảng bãi bồi cao ráo, cỏ mọc xanh, ngay cạnh chỗ dân vạn neo thuyền. Bãi ấy không thuộc ruộng của ai, không thuộc đất của hợp tác xã. Mùa lũ nước lên thì ngập, mùa cạn thì trơ ra, dân vạn vẫn phơi lưới trên đó. Ông Lềnh nói với mấy nhà vạn chài, không ai phản đối.

Đằng với Tuệ chặt tre ở bãi sông, dựng một cái lều bốn cột, mái lợp lá cọ, có cái phên che phía gió. Ông Lềnh mang sang hai tấm ván thuyền cũ làm phản. Thằng Nổi đóng cho chị nó cái biển gỗ, khắc nguệch ngoạc mấy chữ, rồi Dương bảo nó tháo xuống, vì quán ở bến đò không cần biển, ai đi qua ngửi mùi là biết.

Vốn là tiền cơm nắm, tiền may vá, và đống thóc trông trẻ mùa gặt mà bà Cử đã đong đi đong lại. Bà Cử để cô mang một nửa đống thóc ấy đi xay, không nói một lời.

Cô bán những thứ đơn giản. Sáng có bánh đúc lạc nóng, ăn với tương, bán cho người đi đò sớm sang chợ. Trưa có cơm suất, một bát cơm, một khúc cá kho, một đĩa rau luộc chấm tương, bán cho khách đò, cho dân thuyền buôn, cho thợ lò gạch đi qua. Chiều có nước chè xanh nấu trong cái ấm đất to, mười đồng một bát, ai khát thì ngồi uống. Cô đong cơm bằng một cái bát cố định, cá cắt khúc bằng một cái que đo, rau chần vừa chín tới để còn giòn, nước luộc rau không đổ đi mà để nấu canh cho bữa sau. Mỗi tối, cô ngồi với Giang tính lại: hôm nay hết bao nhiêu gạo, bao nhiêu cá, bao nhiêu củi, bán bao nhiêu suất. Giang tính nhẩm nhanh hơn cô.

Gạo thì cô mua từ thuyền buôn. Gạo chợ Gàu mỗi phiên một giá, lại phải gánh hai cây số. Thuyền buôn xuôi ngược trên sông Cầu cập bến Mía mỗi ngày, có thuyền bán gạo xay sẵn, đóng bao, rẻ hơn chợ một chút. Một buổi sáng, một con thuyền mui cót lớn cập bến. Người chủ thuyền là một lão già thấp lùn, mặt bè bè, mắt híp, đội cái mũ lá cọ, chân đi đôi dép cao su cắt từ lốp xe.

– Gạo đây cô ơi. Gạo xay mới, hai bao giá hữu nghị.

Dương nhìn con thuyền. Mui cót. Cô biết con thuyền ấy. Cái thân này biết trước khi cô kịp nhìn kỹ.

Lão Đĩnh.

Cô đứng im một lúc. Rồi cô mua. Hai bao. Cô muốn nhìn kỹ lão già ấy. Cô muốn lão quen mặt cô, quen ghé quán cô, quen mở miệng. Cô trả tiền, đổ gạo vào hai cái chum ở góc lều. Trên hai cái bao tải rỗng có một cái dấu mực xanh đã nhòe. Cô nhìn cái dấu ấy rất lâu, rồi gấp hai cái bao lại, nhét dưới gầm phản, định bụng giữ làm bằng.

Hai tuần sau, một buổi trưa nắng gắt, quán đang đông. Năm sáu người khách đò ngồi ăn cơm, ba thợ lò gạch uống chè. Có tiếng xe đạp dừng ở đầu bãi. Ba người đàn ông đi xuống. Người đi đầu mặc áo kaki vàng, đội mũ cối gắn phù hiệu. Anh Hựu, công an xã. Đi sau anh là một cán bộ xã mà Dương không biết tên, và ông Thược.

Anh Hựu đứng ở cửa lều, nhìn quanh. Mặt anh nghiêm, nhưng không dữ.

– Cô Rươi. – Anh nói. – Có người báo quán cô mua gạo không rõ nguồn gốc. Gạo xay từ thóc của hợp tác xã. Cô cho chúng tôi xem.

Ông Thược không nói gì. Ông chỉ đứng sau lưng anh Hựu, hai tay chắp sau lưng, mỉm cười. Rồi ông cúi xuống, như vô tình, thò tay vào gầm cái phản ván thuyền, lôi ra hai cái bao tải rỗng gấp đôi.

Ông giũ cái bao ra trước mặt mọi người. Trên lớp vải đay thô, ngay giữa bao, in một cái dấu mực xanh tròn đã nhòe, nhưng vẫn đọc được mấy chữ.

Hợp tác xã Đông Vạn.

— Hết chương 11 —

Mục lục Cái cúc đồng trong ruột gối cô dâu

  1. 1Chậu nước vo gạo9 phút
  2. 2Nồi sắn mở vung11 phút đọc
  3. 3Mười suất cơm nắm ở bãi Nổi9 phút đọc
  4. 4Nước sắn đổ xuống rãnh9 phút đọc
  5. 5Một nắm gạo, một nhúm muối10 phút đọc
  6. 6Cái máy khâu dưới gầm phản11 phút đọc
  7. 7Đêm mười tám tháng Mười9 phút đọc
  8. 8Người mặc áo của chồng10 phút đọc
  9. 9Nhà trẻ mùa gặt10 phút đọc
  10. 10Năm cái vỗ lưng9 phút đọc
  11. 11Tiếng loa chia ruộng10 phút đọc
  12. 12Bao tải có dấu xanh9 phút đọc
  13. 13Hai quả cân năm cân9 phút đọc
  14. 14Cái cúc nhựa trắng9 phút đọc
  15. 15Người em đứng ngoài cửa9 phút đọc
  16. 16Vạn chài lên bờ9 phút đọc
  17. 17Ca đong dầu một lít9 phút đọc
  18. 18Sân kho ngày nộp thóc mùa9 phút đọc
  19. 19Lời người con cả10 phút đọc
  20. 20Mười ngày trên ủy ban xã9 phút đọc
  21. 21Rươi9 phút đọc

Về truyện này

Cái cúc đồng trong ruột gối cô dâu là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Thiện của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →