AI Truyện
Cái ca men sứt miệng trên đồi Sương

🔍 Trinh thám

Cái đèn trắng nằm yên

Cái ca men sứt miệng trên đồi Sương · Chương 6/20 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 6: Cái đèn trắng nằm yên

Phòng thằng Bi ở cuối hành lang tầng trên, nhỏ, trần dốc theo mái, tường dán đầy hình khủng long cắt từ sách báo. Trên bàn học có một hộp bút chì màu, một cuốn vở Tiếng Việt lớp bốn và một con khủng long bằng nhựa gãy đuôi. Cửa sổ là cửa sổ kính mở ra hai cánh, đặt thấp, vừa tầm một đứa trẻ quỳ lên giường nhìn ra.

Bi quỳ lên giường, chỉ ra ngoài.

– Đó. Nhà ông ngoại.

Thiều quỳ xuống cạnh nó. Từ chỗ này, chị nhìn thấy căn nhà gỗ trên sườn đồi phía bắc, nhìn chéo lên, thấy rõ cái hiên với hai cây cột và mái tôn. Cái mái vòm giàn phơi nằm phía dưới, gần hơn, che khuất phần chân dốc. Nhưng vì cửa sổ ở trên cao nên tầm mắt vượt qua được tảng đá lớn và bụi le, thấy được một đoạn bậc đá ngắn ngay dưới hiên. Cái đoạn mà sáng nay chị đã đứng chụp ảnh.

– Tối nào ông cũng để đèn hiên, – Bi nói. – Con nằm đây nhìn lên. Đèn tắt là ông nghe radio xong rồi đó.

– Tối qua con có nhìn không?

– Có. Mà tối qua cúp điện.

– Con kể cô nghe từ lúc mẹ kể chuyện nha.

Thằng bé ngồi bệt xuống giường, kéo con khủng long gãy đuôi vào lòng.

– Mẹ kể chuyện Thạch Sanh. Mẹ kể tới khúc chằn tinh thì sấm nổ cái rầm, rồi tối thui. Con sợ, con ôm mẹ. Mẹ nói không sao, chút có máy nổ. Lâu lắm. Rồi máy nổ kêu rầm rầm dưới kia, cái đèn phòng con sáng lên. Con chạy ra cửa sổ coi đèn ông ngoại.

– Con thấy gì?

– Đèn hiên ông tắt. Nhưng có cái đèn khác. Cái đèn nhỏ, trắng trắng, nằm dưới bậc. – Nó chỉ ra cửa sổ, ngón tay nhỏ xíu dí lên mặt kính, đúng vào đoạn bậc đá ngay dưới hiên. – Ở đó đó cô. Nó nằm im. Con nhìn lâu lắm, nó không nhúc nhích. Con kêu mẹ, ông ngoại ngồi ngoài bậc kìa mẹ. Mẹ nhìn ra, mẹ nói ông ngồi coi mưa đó, ông vẫn vậy, con ngủ đi.

– Đèn đó màu gì con?

– Trắng. Trắng như đèn điện thoại. – Nó ngẫm nghĩ. – Không phải đèn bão. Đèn bão của ông vàng vàng, mà nó lắc lắc. Cái này đứng im.

– Rồi sao nữa?

– Rồi mẹ ru con. Con ngủ. Con dậy là lúc cái tiếng ầm ầm, con la lên, mẹ chạy qua bế con xuống dưới. – Nó dụi mắt. – Sáng nay người ta nói ông xuống nhà phơi rồi ông té. Ông có xuống đâu. Ông ngồi trên đó mà.

Thiều không trả lời ngay. Chị nhìn ra cửa sổ, nhìn đoạn bậc đá dưới mái hiên. Sáng nay ông Khiêm nằm ở đó, bàn tay phải úp lên cái điện thoại. Cái điện thoại hết sạch pin.

Đèn hiên tắt vì cả đồi mất điện từ chín giờ bốn mươi. Cây đèn bão nằm trong bếp nhà chính, treo trên đinh, ai cũng thấy. Vậy thì cái đèn trắng nằm yên dưới bậc đá lúc chín giờ năm mươi, khi máy nổ vừa chạy, chỉ có thể là một thứ: cái đèn pin của điện thoại, đang bật, nằm dưới bàn tay một người không còn cử động.

Chị thấy hai bàn tay mình lạnh đi.

Nếu đúng như vậy, lúc chín giờ năm mươi ông Khiêm đã nằm ở đó rồi. Và người xách cây đèn bão đi xuống nhà phơi lúc mười giờ mười lăm, trùm áo mưa kín mít, cúi đầu ngược gió, không phải là ông.

Chị nhắc mình: đừng vội. Trẻ con nhớ giờ không chính xác. Nhưng thằng bé không nói giờ. Nó nói "lúc máy nổ chạy". Mà máy nổ chạy lúc mấy giờ thì cả sảnh tối qua đều biết, chính chị đã nhìn đồng hồ treo tường. Chín giờ năm mươi.

– Bi, – chị nói, nắm lấy bàn tay nó. – Con nói với cô là đúng rồi. Bây giờ cô biết rồi, để cô lo. Ai hỏi con, con cứ kể thật như vậy. Không ai la con đâu.

– Mẹ con có bị la không?

– Không. Mẹ con không làm gì sai.

Chị không chắc câu cuối có đúng không. Nhưng thằng bé chín tuổi vừa mất ông ngoại, chị không định cho nó mang thêm cái gì.

Lúc chị xuống tới đầu cầu thang thì nghe tiếng nôn khan từ nhà vệ sinh dưới nhà. Cửa nhà vệ sinh khép hờ. Bà Ngự đứng ngay ngoài, một tay cầm cái khăn ướt, giọng dịu dàng như dỗ con nít:

– Từ từ con. Không có gì hết. Ra được thì ra, không ra được thì thôi. Thở bằng mũi.

Châu bước ra, mặt xanh như tàu lá chuối, tóc mai bết mồ hôi. Bà Ngự đưa khăn cho cô lau mặt, rồi dắt cô ngồi xuống cái ghế dài ở chân cầu thang. Không ai thấy Thiều đứng ở mấy bậc trên. Chị định lên tiếng, rồi thôi.

– Mấy tuần rồi con? – Bà Ngự hỏi nhỏ.

Châu giật mình nhìn bà. Rồi cô cúi đầu.

– Dạ… bảy tuần. Sao bà biết ạ?

– Tôi làm y tá ba chục năm. Mà không cần ba chục năm đâu. Hôm qua trên xe tôi đã thấy rồi. – Bà Ngự cầm cổ tay Châu, đặt hai ngón lên, đếm mạch theo thói quen. – Chồng con biết chưa?

– Dạ chưa. Cháu định đi chuyến này rồi nói. Mà giờ… – Châu bật khóc, khóc như đứa trẻ, không thành tiếng. – Giờ anh ấy cứ như người khác. Suốt ngày cầm điện thoại. Đêm qua anh ấy đi đâu mất gần một tiếng, về thì nói dối. Cháu biết anh ấy nói dối. Cháu không biết anh ấy giấu cái gì.

Bà Ngự không nói gì. Bà ngồi xuống cạnh Châu, choàng một tay qua vai cô, kéo cô dựa vào mình. Bà vỗ nhẹ lên lưng cô, đều đều, như vỗ một đứa con nít ngủ.

– Đàn ông ai cũng có lúc giấu, – bà nói sau một lúc lâu. – Có người giấu vì sợ. Có người giấu vì xấu hổ. Mình chưa biết thì chưa nên kết tội.

– Dạ.

– Có con rồi thì con sẽ thấy. Cái gì mình cũng chịu được. Đói chịu được, nghèo chịu được, chồng dở cũng chịu được. – Bà ngừng lại. – Trừ một thứ thôi.

Châu ngẩng lên nhìn bà. Bà Ngự không nói tiếp. Bà lấy lọ dầu nút bấc trong túi áo, đổ một giọt, xoa lên thái dương cho Châu. Mùi khuynh diệp lan ra, hăng, mát lạnh.

Thiều đi ngược lên mấy bậc, rồi đi xuống lại, lần này dẫm mạnh chân cho có tiếng. Hai người dưới chân cầu thang ngẩng lên. Bà Ngự mỉm cười với chị như không có chuyện gì.

Chiều hôm đó, mưa ngớt hẳn trong hai tiếng. Bầu trời vẫn xám nhưng sáng hơn, đủ để thấy những dải sương trắng bò lổm ngổm trên các ngọn thông phía sau đồi. A Toan với Vũ lại đi xuống khúc bảy, lần này mang theo ống nhòm của ông Khiêm. Họ về nói đất vẫn còn chảy, phía bên kia không thấy bóng người hay xe cộ gì.

Tân đề nghị dùng máy nổ tiết kiệm: chỉ chạy từ năm giờ chiều tới mười giờ đêm, để dành dầu. Không ai phản đối. Kha giúp A Toan đo lại thùng dầu, tính toán trên giấy, nói chạy như vậy, cộng thêm một tiếng bơm nước mỗi sáng, thì đủ được chừng một tuần. Đó là lần đầu tiên Thiều thấy anh ta làm một việc gì đó với hai bàn tay mà không cầm điện thoại.

Thiều xuống bếp phụ bà Sáu nhặt rau. Bà Sáu không cần ai phụ, nhưng bà cũng không đuổi. Bà ngồi trên cái ghế đẩu thấp, nhặt từng cọng rau dớn, vừa nhặt vừa nói, nói như người phải nói ra cho khỏi nghẹn.

– Mười bốn năm tui nấu cho ổng. Ổng dễ ăn lắm, cái gì cũng ăn. Ổng chỉ có hai cái tật. Một là cái ca cà phê mười giờ. Hai là ổng sợ lửa.

– Sợ lửa?

– Sợ lắm cô. Ổng không hút thuốc, không đốt vàng mã, nấu nướng gì cũng bếp ga, lò sưởi ngoài sảnh là để khách chứ ổng không ngồi gần. Hồi tui mới vô làm, chiều đó tui gom lá khô sau vườn đốt, ổng ở đâu chạy ra, cầm cái xô nước tạt cái ào, mặt tái mét như người thấy ma. Rồi ổng xin lỗi tui, nói hồi xưa đi lâm trường ổng thấy cháy rừng một lần, sợ tới giờ. – Bà Sáu thở dài, bẻ đôi một cọng rau. – Bốn chục héc ta thông sau đồi đó ổng trồng từng cây một, từ hồi chưa có cái nhà này. Ổng nói trồng cho đủ thì thôi. Tui hỏi đủ là bao nhiêu, ổng không nói.

– Vậy sao ổng chịu bán?

– Ai biết. Người già mệt rồi thì bán. – Bà Sáu ngừng tay. – Mà tối qua ăn cơm xong tui thấy ổng khác lắm. Ổng nói mai ký, mà mặt ổng không phải mặt người mai đi ký giấy.

Thiều không nói với ai chuyện thằng Bi. Chị đi một vòng quanh nhà chính, nhìn từng thứ thật chậm. Cửa bếp sau. Cái đinh trống trơn nơi cây đèn bão từng treo. Hàng móc áo mưa ngay cạnh cửa, năm bộ áo mưa màu vàng in tên khu nghỉ, cái nào cũng còn ướt. Cái cầu thang gỗ bên ngoài, dựng sát tường sau, đi thẳng từ sân sau lên ban công tầng trên, chỗ có cửa ra vào phòng của Trâm.

Chị đứng nhìn cái cầu thang ấy rất lâu.

Năm giờ chiều máy nổ chạy. Bà Sáu dọn cơm tối, một nồi canh bí đỏ nấu với tôm khô và một đĩa trứng chiên, nói với mọi người, giọng còn khàn, phải ăn cho có sức, người chết thì đã chết rồi. Mọi người ngồi ăn trong im lặng. Trâm không xuống. Vũ ăn vội rồi ra ngoài.

Sau bữa cơm, Thiều đi ngang qua lò sưởi. Trên lưng chiếc ghế bành gần lửa có ai đó vắt một cái áo len màu ghi, chắc để hong cho khô. Cái áo len của Trâm. Chị nhận ra nó: tối qua, lúc mười giờ năm mươi, Trâm từ trên lầu đi xuống, ngồi xuống cạnh bếp lửa, xoa hai bàn tay vào nhau, nói lạnh quá. Chị ấy mặc đúng cái áo này.

Thiều dừng lại. Chị giả vờ cúi xuống cời lửa. Rồi chị cầm cái ống tay áo lên, làm bộ sửa lại cho ngay ngắn, và đưa lại gần mặt.

Mùi len ẩm. Mùi khói củi. Và ở mép cổ tay áo bên phải, len vào giữa những sợi len, một thứ mùi chị đã ngửi thấy sáng nay khi đứng trước cây đèn treo trên cửa nhà phơi.

Mùi dầu hoả.

Chị buông cái ống tay áo xuống. Ngọn lửa trong lò reo lên một tiếng nhỏ. Từ trên cầu thang, Trâm đang đi xuống, tay bưng một cái khay không, mắt nhìn thẳng vào chị.

— Hết chương 6 —

Mục lục Cái ca men sứt miệng trên đồi Sương

  1. 1Mười hai khúc quanh12 phút đọc
  2. 2Sáu cái bát sứ11 phút đọc
  3. 3Đêm không ai ngủ10 phút đọc
  4. 4Hai cái tách sứ10 phút đọc
  5. 5Đất sét tím9 phút đọc
  6. 6Cái đèn trắng nằm yên10 phút đọc
  7. 7Ai xách cây đèn bão9 phút đọc
  8. 8Ba muỗng đường10 phút đọc
  9. 9Ba miếng bông gòn10 phút đọc
  10. 10Năm chữ trong gió10 phút đọc
  11. 11Nếm lại khi nguội9 phút đọc
  12. 12Dấu dép dưới mái hiên9 phút đọc
  13. 13Ấm trà nguội dần9 phút đọc
  14. 14Út Lâm9 phút đọc
  15. 15Người mẹ ở lâm trường Tân Lập9 phút đọc
  16. 16Hai phút im lặng10 phút đọc
  17. 17Hai chén trà trên mỏm đá9 phút đọc
  18. 18Những người từ phía đông9 phút đọc
  19. 19Phong bì mã số10 phút đọc
  20. 20Đi xuống mười hai khúc quanh11 phút đọc

Về truyện này

Cái ca men sứt miệng trên đồi Sương là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Đức của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →