Chương 12: Dấu dép dưới mái hiên
Bùn ngừng trườn lúc gần một giờ chiều. Căn bungalow số sáu nằm nghiêng như con thuyền mắc cạn. Căn số năm chỉ còn lòi ra nửa trên, cửa sổ kính vỡ toang, rèm cửa màu kem bết bùn thò ra ngoài như cái lưỡi. Không ai được lại gần.
Thiều xin Trâm đi với chị lên nhà gỗ một lần nữa. Lần này chị mang theo cái đồng hồ bấm giờ dùng để nếm cà phê.
– Mình làm gì vậy chị?
– Đi bộ. Đếm phút.
Họ bắt đầu từ cái hiên. Thiều bấm đồng hồ, đi xuống tám mươi bậc đá, qua nhà phơi, theo lối vườn tới nhà chính, rồi theo lối sỏi phía đông ra tới cửa căn bungalow số hai. Chị đi nhanh, nhanh như người đang sợ, nhưng không chạy, vì chị biết không ai chạy được trên con dốc ấy trong đêm mưa mà không gãy cổ. Đến cửa căn số hai, chị bấm dừng.
Bảy phút mười giây. Giữa ban ngày, trời không mưa.
– Lúc chín giờ bốn mươi hai, cô Châu chạy ra khỏi căn này, đụng ngay anh Tân ở ngoài, – Thiều nói. – Lúc chín rưỡi cô ấy đứng ở cửa sổ này thấy anh Tân đi ngang. Lúc chín giờ bốn mươi hai thì anh Tân thấy cô ấy ở đây. Còn tiếng người đàn bà trên hiên nhà ba em, cậu Kha nghe lúc chín giờ ba mươi lăm, rồi một lúc sau mới cúp điện.
Trâm nhẩm.
– Không kịp.
– Không kịp. Trừ khi cô ấy biết bay.
Trâm thở ra, một hơi dài. Thiều hiểu. Không ai muốn nghĩ cô gái có bầu ấy đã đứng trên hiên nhà ba mình.
Họ quay lại nhà gỗ. Lần này Thiều đi từ cửa sau nhà gỗ, theo đoạn lối mòn còn sót, xuống hướng cái thềm phía tây bắc. Chỉ được chừng bốn chục bước là gặp vệt đất trọc vỡ toác, không đi tiếp được. Nhưng chị nhớ lời A Toan: từ cái thềm sỏi lên tới sau nhà gỗ, đi lối này chừng bốn phút.
Chị đứng ở chỗ đất vỡ nhìn xuống. Cái thềm sỏi trắng giờ đã bị bùn đè một nửa. Nhưng nửa kia, phía căn bungalow số bốn, vẫn còn đó, sỏi trắng tinh. Chị nhớ chiều hôm qua chị xách vali cho bà Ngự đi ngang cái thềm ấy. Sỏi sạch tinh như vừa rửa. Không có vệt đất tím nào. Cái thềm dốc ngược về phía vực, nước mưa chảy ra đằng trước, không phải từ trên lối mòn chảy xuống. A Toan nói đất sét tím trôi lem nhem ra cả thềm. Anh đoán. Anh chưa đứng nhìn.
Vậy thì một đôi dép đi trên cái thềm ấy, đi lối sỏi vòng qua nhà chính, sẽ không dính đất tím. Muốn dính, phải đi lên cái lối mòn.
Chị đứng đó lâu tới mức Trâm phải gọi tên chị hai lần.
Hai người quay lại hiên nhà gỗ. Thiều đứng ở mép hiên, chỗ bậc đá trên cùng, nhìn xuống. Mười bậc phía dưới là chỗ ông Khiêm đã nằm. Chiếc dép rơi lại ở bậc thứ hai. Cái điện thoại sáng đèn trong tay phải, đèn rọi xuống dốc.
Chị thử đứng như một người cầm điện thoại rọi đường. Tay giơ ra trước, đèn chiếu xuống những bậc đá phía dưới. Người ta rọi như vậy khi tiễn khách về, để khách thấy chỗ đặt chân. Hoặc khi chính mình sắp đi xuống. Một ông già sáu mươi tư tuổi, đi dép trong nhà, không áo mưa, giữa lúc gió bão đang lên, mà lại đi xuống con dốc này. Phải có chuyện gì gấp lắm. Hoặc ông không định đi xuống.
– Chị nghĩ gì vậy? – Trâm hỏi.
– Chị nghĩ ba em đứng ở đây, rọi đèn cho ai đó. – Thiều hạ tay xuống. – Rồi ba em ngã. Mà cái người được rọi đường thì không đi xuống dốc trước. Người đó đi về lối sau.
Mái hiên rộng, lợp tôn, chìa ra gần hai mét. Sàn hiên lát ván gỗ thông. Ba ngày nay mưa hắt vào được một vạt ván phía ngoài, còn phía trong, sát vách, vẫn khô. Sáng hôm phát hiện, A Toan với Vũ đã khiêng ông Khiêm qua cái hiên này, chân giẫm đầy đất đỏ ở lối đi giữa. Nhưng góc hiên phía sau, chỗ cánh cửa nhỏ mở ra lối mòn, thì không ai đi qua. Không ai có lý do gì để đi qua.
Thiều quỳ xuống.
Trên mấy tấm ván gỗ khô ở góc ấy, sát ngưỡng cửa sau, có hai vết đất đã khô cứng. Màu tím. Không phải vết chân trần, cũng không phải vết giày. Một nửa dấu đế dép, nhỏ, hoa văn hình xương cá, đầu tròn. Và cách đó một bước, một cái dấu gót tròn lọt thỏm.
Chị lấy điện thoại ra chụp. Chụp gần, chụp xa, đặt cái đồng hồ bấm giờ bên cạnh để biết cỡ.
– Cái gì vậy chị? – Trâm cúi xuống.
– Dấu dép. Của người đi lối sau, vào cửa sau. – Thiều đứng dậy, phủi đầu gối. – Anh Tân đi dốc đá phía trước, đất đỏ. Cậu Kha đi lối sau nhưng không vào nhà, cậu ấy nói vậy, mà cậu ấy đi giày thể thao. Còn cái dấu này là dép. Nhỏ. Của đàn bà.
Trâm nhìn cái dấu dép rất lâu.
– Chị biết của ai.
Thiều không trả lời. Chị biết, hoặc chị nghĩ chị biết. Một đôi dép nhựa quai hậu đặt ngay ngắn ở góc trong hàng giày ngoài sảnh, đế đã chùi qua, rãnh cao su còn sót đất tím. Nhưng nếm cà phê dạy chị một điều: nghĩ mình biết là lúc dễ chấm sai nhất.
– Trâm, em giữ giùm chị chuyện này. Đừng nói với ai, đừng làm gì. Chị cần coi một thứ nữa.
Chiều đó, lúc bà Ngự nằm nghỉ trong phòng khách số hai, Thiều đi ra hàng giày dép ngoài sảnh. Đôi dép nhựa quai hậu màu nâu vẫn nằm ở đó, giờ đã được rửa sạch tinh, sạch hơn mọi đôi giày khác trên đồi này. Chị lật một chiếc lên. Đế dép hoa văn xương cá. Gót tròn. Cỡ ba mươi sáu.
Chị đặt nó xuống, đúng chỗ cũ, đúng chiều cũ. Cạnh đó là đôi giày thể thao của Châu, cỡ ba mươi bảy, đế cao su hoa văn ô vuông. Đôi dép tổ ong của bà Sáu, đế lỗ chỗ như tổ ong thật. Đôi ủng của Trâm. Đôi giày vải của chính chị. Chị nhìn từng đôi, như nhìn sáu cái bát trên bàn nếm. Không có đôi nào khác mang hoa văn xương cá.
Rồi chị đứng đó, giữa sảnh, nghe tim mình đập. Chị nghĩ tới bà cụ bảy mươi tuổi xuống xe giữa trời mưa để bẩy đá, chỉ chỗ đặt thanh sắt cho A Toan. Nghĩ tới bàn tay vỗ đều đều trên lưng Châu. Nghĩ tới câu "anh muốn nghi thì nghi tôi luôn đi", nói ra giữa bàn ăn sáng nay, nói thẳng, không chút run.
Chị không hiểu. Một người có thể đã đứng trên cái hiên ấy, có thể đã hét lên năm chữ ấy. Nhưng vì sao? Bà ấy là khách lạ. Bà ấy mới gặp ông Khiêm lần đầu tiên chiều hôm đó, ở bậc thềm nhà chính, khi túi quýt rơi.
Túi quýt rơi.
Chị nhớ lại. Ông Khiêm đứng trên bậc thềm, cầm cái ca men bằng tay trái. Và bà Ngự đứng sững, túi quýt tuột khỏi tay, mắt nhìn chằm chằm vào tay ông.
Chị nhớ lại buổi nếm tối đó. Ông Khiêm nói cái ca này theo tôi từ hồi lâm trường, ba chục năm, cháy rừng cũng không mất. Và cái ly nước lọc trong tay bà Ngự rơi xuống nền gạch.
Hai lần. Cả hai lần, khi có cái ca men.
Trời chạng vạng, thằng Bi ra đứng ở hiên sau nhìn về phía đông, phía Vũ với A Toan đã đi. Thiều ra đứng cạnh nó.
– Cô ơi, chú Vũ có về không?
– Có. Chú với chú Toan đi xuống làng gọi người lên. Mai mốt người ta lên.
– Chú cầm con khủng long của con. – Nó nói như để tự nhắc. – Chú nói chú giữ cho con, chú về chú đưa lại.
– Vậy thì chú phải về chứ.
Thằng bé gật đầu, vẫn nhìn về phía rừng. Rồi nó hỏi, không quay lại:
– Ông ngoại có bị ai đẩy không cô?
Thiều không trả lời được. Chị đặt tay lên vai nó, và hai cô cháu đứng đó cho tới khi bà Sáu gọi vào ăn cơm.
Bữa tối hôm đó Thiều ăn không biết mùi vị. Bà Sáu nấu cháo gà xé phay với hành lá và tiêu xay, trời lạnh, cả bàn ăn hết hai nồi. Bà Ngự ngồi cạnh Châu, gắp cho cô mấy miếng gà, dặn ăn nhiều thịt vào, có bầu mà ăn ít là đứa nhỏ thiếu sắt. Kha ngồi bên kia, đã thôi cầm điện thoại, chăm chú nghe bà dặn như học trò.
Thiều hỏi, giọng như hỏi chuyện thời tiết:
– Bác Ngự, bác có đi lên lối sau nhà ông Khiêm bao giờ chưa bác? Lối đất tím đó. Giờ sạt rồi, tiếc ghê, nghe nói trên mỏm đá nhìn xuống đẹp lắm.
Bà Ngự không ngừng gắp.
– Có. Chiều hôm đầu tiên tôi đi dạo lên đó một chút. Lên mỏm đá chưa tới thì trời chuyển mưa, tôi về.
Châu ngẩng lên, ngạc nhiên.
– Chiều hôm đầu bà ngồi với cháu mà bà. Từ lúc xuống xe tới lúc ăn cơm. Bà xoa dầu cho cháu, rồi bà kể chuyện bệnh viện cho cháu nghe.
Bà Ngự dừng đũa. Chỉ một nhịp. Rồi bà cười.
– Ờ ha. Già rồi lẫn. Không phải chiều hôm đầu. Sáng hôm sau. Lúc mọi người còn ở trên nhà ông Khiêm, tôi mệt, tôi đi về lối sau cho gần.
– Dạ, – Châu nói, rồi cúi xuống bát cháo.
Thiều cũng cúi xuống bát cháo. Chị nhớ rất rõ buổi sáng hôm ấy. Khiêng ông Khiêm vào nhà xong, mọi người lục tục đi xuống. Chính chị đã đỡ khuỷu tay bà Ngự xuống từng bậc đá phía trước, tám mươi bậc. Bà vịn vào chị, hơi thở gấp, cho tới tận cái mái vòm giàn phơi.
Bà Ngự chưa từng đi lối sau buổi sáng hôm ấy.
Chị nhai miếng gà mà không biết mình đang nhai gì. Chị biết, cũng như khi lật một bao cà phê lên và thấy lớp hạt mốc nằm dưới đáy, rằng từ giây phút này, chị không thể làm như chưa thấy được nữa.
— Hết chương 12 —

🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe