Chương 20: Đi xuống mười hai khúc quanh
Sáng ngày thứ bảy, máy múc đã gạt được một lối đi bộ qua chỗ sạt ở khúc bảy. Bên kia, một chiếc xe bán tải của công an xã và một chiếc xe cứu thương màu trắng không bật còi đậu chờ, bánh xe trét bùn đỏ tới tận vè. Bên này, xe của khu nghỉ chở người xuống tới mép chỗ sạt.
Họ đưa ông Khiêm xuống trước. A Toan, Tân, Kha và đồng chí Huy khiêng cái cáng từ căn nhà gỗ xuống tám mươi bậc đá, đi chậm, từng bậc một, rồi lên xe xuống khúc bảy, khiêng bộ qua lối mòn sang bên kia. Trâm đi phía trước, không khóc. Bà Sáu đi sau cùng, tay cầm một nắm nhang không thắp. Thằng Bi đứng trên hiên nhà chính với Thiều, nắm chặt tay chị, nhìn theo cho tới khi chiếc xe khuất sau hàng thông.
Rồi tới lượt bà Ngự.
Bà đi ra từ phòng khách số hai, xách cái túi xách nhỏ. Chồng sách bà mang theo còn kẹt dưới bùn cùng căn bungalow số năm. Bà mặc cái áo gió màu cà phê sữa, đã giặt sạch. Đồng chí Huy đi bên cạnh, không cầm tay bà, chỉ đi bên cạnh.
Bà dừng lại ở bậc thềm, chỗ sáu hôm trước túi quýt của bà rơi xuống lăn trên sỏi.
Châu chạy tới. Bà Ngự lấy trong túi áo ra cái lọ thuỷ tinh nhỏ nút bấc, dúi vào tay cô.
– Con giữ đi. Say xe thì xoa cổ tay. Mà đừng xoa nhiều lên bụng, nghe không. Đẻ xong thì vứt đi, đừng xoa cho đứa nhỏ, dầu này nặng.
– Dạ. – Châu nắm cái lọ, khóc. – Bà…
– Thôi. Đi đi con.
Bà quay sang Trâm. Hai người đàn bà nhìn nhau rất lâu. Không ai nói gì. Rồi Trâm nói, giọng thấp:
– Bác đi cẩn thận. Đường còn trơn.
Bà Ngự gật đầu. Môi bà mấp máy, nhưng không thành tiếng. Bà đi xuống bậc thềm, theo đồng chí Huy ra xe.
Lúc bà đi ngang Thiều, bà dừng lại một nhịp.
– Cô Thiều. Cảm ơn cô đã cho tôi một đêm.
– Dạ.
– Mà cô nói dối thằng Bi đó, – bà nói, rất khẽ. – Cô nếm người được. Cô chỉ không thích nếm thôi.
Rồi bà lên xe của khu nghỉ cùng đồng chí Huy. Chiếc xe bò chậm xuống con dốc, khuất sau hàng thông. Ở khúc bảy, bà sẽ đi bộ qua lối mòn, như mọi người.
Điều tra viên Lộc ở lại thêm một lúc để niêm phong căn nhà gỗ, rồi mới đi xe sau. Trước khi đi, anh ta bắt tay từng người, dặn tuần sau sẽ có giấy mời làm việc tiếp, ai ở xa thì làm việc ở công an nơi cư trú. Bắt tay Thiều, anh ta nói:
– Chị về Buôn Ma Thuột bằng đường nào?
– Xe khách, anh. Qua đèo.
Lộc nhìn chị một giây, như đọc được điều gì đó trên mặt chị. Anh ta không hỏi thêm.
Thiều đi buổi chiều, khi xe của khu nghỉ đã chạy xuống được tới khúc bảy. Đoạn sạt chưa thông cho ô tô, máy múc mới gạt được một lối mòn rộng chừng một mét men theo vách núi, hai bên cắm cọc tre căng dây. Xe chở khách xuống tới đó, khách đi bộ qua, bên kia có xe của trạm kiểm lâm chờ.
Trước khi lên xe, chị lấy trong túi áo khoác ra cái muỗng nếm bằng thép. Cái muỗng tròn, sâu lòng, cán ngắn, theo chị mười chín năm. Chị đưa cho thằng Bi.
– Cho con nè.
Thằng bé nhìn cái muỗng, rồi nhìn chị.
– Cái này của cô mà.
– Cô có cái khác. Con tập hút cho đúng. Hút mạnh, cho nó tản ra khắp miệng. Rồi nhổ. – Chị cười. – Mà nhớ là cà phê phải để nguội mới nếm lần hai. Nóng thì ly nào cũng thơm.
– Để nguội mới lòi tật, – thằng Bi nói, giọng y như chị.
Chị ôm nó một cái. Rồi chị ôm Trâm, ôm bà Sáu. Vũ chống nạng, bắt tay chị, nói năm sau chị lên chấm nữa nghe, mười một gốc của tôi năm sau ra nhiều hơn. Tân đã đi từ sáng với Kha và Châu, ba người cùng xin đi nhờ xe trạm kiểm lâm xuống thị trấn. Trước khi đi, Kha gửi lại cho Trâm một phong bì, nói là tiền phòng sáu đêm, đừng trả lại. Châu ôm Thiều rất lâu, thì thầm vào tai chị: em sẽ đặt tên con là gì đó có chữ Sương.
A Toan lái xe. Thiều ngồi ghế trước, lần này.
Xe lăn bánh xuống con dốc. Khúc quanh thứ mười hai. Khúc thứ mười một. Bên phải là vách núi đỏ, bên trái là vực. Sau năm ngày mưa, vực giờ không còn là khoảng trắng đục nữa. Trời trong vắt, chị nhìn thấy tận đáy: những tán rừng xanh thẫm chồng lên nhau, một con suối trắng bạc chảy xiết, mấy cái nóc nhà sàn nhỏ xíu của một ngôi làng xa tít.
Tay chị theo thói quen tìm vào túi áo khoác. Túi trống. Cái muỗng đã ở lại trên đồi, trong tay một đứa trẻ chín tuổi.
Chị không nắm gì cả. Chị nhìn ra vực. Chị nhìn rất lâu.
– Cô nhìn cái gáy em nè, – A Toan nói, không quay đầu lại.
– Thôi Toan, – Thiều nói. – Để cô nhìn.
Đến khúc bảy, chị xuống xe, đi bộ qua đoạn sạt. Lối mòn máy múc gạt ra còn ướt, đất đỏ lún tới mắt cá. Bên trái là vách đất vừa vỡ, bên phải là dòng đất đá đã trôi xuống vực, rễ cây chổng lên trời. Chị đi chậm, một tay vịn sợi dây căng giữa hai hàng cọc tre, từng bước. Sáu mươi mét. Chị đếm bước, như đếm bậc đá sáng hôm nọ. Tám mươi mốt bước.
Bên kia, xe trạm kiểm lâm chờ. Chị ngồi vào ghế sau. Xe chạy được hai khúc quanh thì điện thoại trong túi chị rung lên. Rung một lần. Rồi rung liên tục, như con ve bị nhốt trong hộp.
Bốn mươi bảy tin nhắn. Mười chín cuộc gọi nhỡ. Tất cả đều của con gái chị.
Chị bấm gọi lại. Chuông chưa reng hết một hồi thì đầu bên kia đã bắt máy.
– Mẹ! Mẹ ơi! Mẹ ở đâu? Mẹ có sao không? Con gọi cả tuần, con gọi lên tỉnh, người ta nói đường sạt, con…
– Mẹ đây. Mẹ không sao. – Thiều nói. Rồi chị phải ngừng lại, vì giọng chị không chịu đi tiếp. – Mẹ đang xuống đèo, con. Mẹ đang xuống.
Mười bốn tháng Ba năm sau, Thiều trở lại đồi Sương.
Lần này chị không đi một mình. Na, con gái chị, xin nghỉ học ba ngày, đi xe khách từ Sài Gòn lên Buôn Ma Thuột, rồi hai mẹ con đi tiếp. Lúc xe qua dốc Mười Hai Khúc, con bé nắm tay mẹ, hỏi mẹ có sợ không. Chị nói có. Rồi chị nhìn ra cửa sổ suốt mười hai khúc quanh, không nhắm mắt lần nào. Chỗ khúc bảy giờ đã có một bức tường kè đá cao gần chục mét, cỏ non mọc lún phún trên mặt đất mới.
Trời không có bão. Cuối mùa khô, trời xanh ngắt, nắng hanh, gió thổi qua rừng thông nghe rì rào như sóng. Mấy hàng cà phê đã ra hoa đợt đầu, trắng xoá cả sườn đồi, thơm như hoa nhài mà ngọt hơn, đậm hơn. Bốn chục héc ta thông sau đồi vẫn đứng nguyên đó, không thiếu một cây.
Họ lên mỏm Đá Bằng từ sáng sớm, theo con lối mòn mới mà A Toan với Vũ đã phát lại từ sau nhà gỗ, đắp bậc bằng đá suối. Trâm đi đầu, xách một cái giỏ mây. Vũ đi sau, đã bỏ nạng, đi vững. Bà Sáu chống gậy, càu nhàu leo dốc mệt. A Toan bế đứa con gái một tuổi rưỡi của anh, con bé ngủ gục trên vai bố. Thằng Bi chạy trước, chạy sau, cao hơn năm ngoái gần một gang tay, trong túi áo vẫn lủng lẳng cái muỗng nếm bằng thép.
Trên đường đi, Trâm kể cho Thiều nghe những chuyện đã xảy ra từ tháng Mười.
Bác sĩ pháp y kết luận những gì, cơ quan điều tra làm việc ra sao, Trâm nói chị không rành để kể cho đúng. Bà Ngự đã khai đúng như bà kể trên mỏm đá, không thêm, không bớt. Tháng Giêng toà đã xử. Trâm có đi dự, ngồi hàng ghế cuối. Bà nhận hết, không kháng cáo. Trâm chưa vào gặp bà. Chị nói có thể sẽ đi, khi nào chị biết mình muốn nói gì.
Đơn chị gửi xin xem lại hồ sơ vụ cháy năm chín lăm, chị gửi ba lần. Hai lần đầu không ai trả lời. Lần thứ ba, người ta hẹn chị tháng Tư lên làm việc. Chị không biết người ta có sửa được tờ biên bản ba mươi năm trước không. Chị sẽ đi.
Tiền cọc, Tân đã thuyết phục được công ty cho chị trả làm ba đợt. Chị bán lô cà phê năm ngoái, bán thêm mấy sào vườn non phía nam, vay ngân hàng phần còn lại. Tân thì nghỉ việc từ tháng Mười Hai. Anh ta gửi cho Trâm một tin nhắn, nói giờ anh làm cho một công ty nhỏ ở Bảo Lộc, chuyên trồng lại rừng trên đất đồi trọc. Lương thấp hơn nhiều. Anh nói ngủ được.
Châu gửi ảnh từ Hà Nội, bụng đã to như cái thúng. Con gái, dự sinh cuối tháng Năm. Kha không lấy lại được đồng nào. Hai vợ chồng đang trả nợ dần.
– Còn cái ca, – Thiều hỏi.
Trâm không trả lời. Họ đã lên tới mỏm đá.
Phiến đá bằng phẳng, xám, nhô ra khỏi sườn đồi như cái bệ. Phía trước, không còn sương, cả thung lũng trải ra dưới nắng, xanh tới tận chân trời. Cái lư hương bằng đá vẫn ở góc, Trâm đã nhổ sạch chân nhang cũ.
Trâm mở cái giỏ mây. Trong đó có một cái phích nước, một bình trà nhỏ, hai cái chén. Và cái ca men trắng, bông sen đỏ phai, miệng sứt một vết bằng hạt đậu.
– Xử xong, tháng Hai người ta trả lại, – Trâm nói. – Có biên bản giao nhận đàng hoàng.
Chị rót trà vào một cái chén, đặt cạnh lư hương. Chị lấy trong túi áo ngực ra tấm ảnh ép nhựa, người thanh niên mười chín tuổi giơ cái ca lên cười, dựng nó vào lư hương. Rồi chị đưa cái ca men cho Vũ.
Vũ đã pha sẵn trong phích một mẻ cà phê, cà phê của mười một gốc giống cũ, hái từ vụ trước, rang nhẹ. Anh rót vào cái ca, đầy tới miệng. Hơi nóng bốc lên, mang theo mùi mận chín, mật ong rừng, một chút hoa trà ở cuối. Anh đặt cái ca lên mặt đá, cạnh chén trà, cạnh tấm ảnh.
– Ba rót hai chén, – Trâm nói. – Một chén để đây, một chén ba cầm. Năm nay con không cầm. Con để cả hai ở đây.
Không ai thắp nhang. Họ ngồi xuống trên phiến đá, dưới nắng, nhìn ra thung lũng. Bà Sáu chắp hai tay trước ngực, môi mấp máy. Con bé của A Toan thức dậy, dụi mắt, chỉ tay về phía một con diều hâu đang lượn tròn trên những ngọn thông.
Na ngồi cạnh mẹ, đầu tựa vào vai chị. Con bé đã nghe mẹ kể hết chuyện bảy ngày trên đồi, kể trong đêm đầu tiên chị về tới nhà, kể tới sáng. Con bé không hỏi gì. Nó chỉ nắm tay mẹ, đếm mấy cái vết chai trên đầu ngón tay chị, như hồi nhỏ.
Thằng Bi ngồi xổm bên cạnh cái ca men, nhìn hơi nóng bốc lên. Nó rút cái muỗng nếm trong túi áo ra.
– Cô Thiều. Con nếm được không?
Thiều nhìn cái ca. Nhìn tấm ảnh. Nhìn hơi nóng đang mỏng dần trong gió.
– Để đó con, – chị nói. – Đừng nếm.
– Sao vậy cô?
– Cái ca này không phải để nếm. – Chị nhích lại gần nó, kéo cả Na theo. – Mình chỉ ngồi đây với nó. Để nó nguội.
– Rồi sao nữa cô?
– Rồi thôi.
Thằng bé gật đầu. Nó cất cái muỗng vào túi, ngồi bó gối cạnh chị.
Họ ngồi đó tới trưa. Không ai nói gì nhiều. Nắng lên cao, gió từ thung lũng thổi lên mang theo mùi hoa cà phê. Trong cái ca men sứt miệng, cà phê nguội dần, nguội dần, cho tới khi mặt nước phẳng lặng, soi được một mảnh trời xanh và bóng một ngọn thông.
— Hết —

🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe