Chương 2: Sáu cái bát sứ
Ông Khiêm không đứng dậy. Ông chỉ kéo chiếc ghế trống bên cạnh ra một gang tay.
– Vũ. Vô ăn cơm.
– Tôi không ăn.
– Thì vô ngồi. Đứng đó nước nhỏ ướt sàn, bà Sáu lau mệt.
Người đàn ông tên Vũ đứng thêm mấy giây, rồi cởi áo mưa vắt lên móc cạnh cửa, kéo ghế ngồi xuống. Không phải chiếc ghế ông Khiêm kéo ra, mà chiếc ghế cuối bàn, cạnh thằng Bi. Thằng bé nhích sang cho chú, có vẻ quen.
Ông Khiêm giới thiệu với khách bằng một giọng như không có chuyện gì vừa xảy ra: Đoàn Minh Vũ, chủ vườn Dốc Mây ngay sát vách, một trong những người gửi mẫu dự thi năm nay. Trâm đã xếp cho anh căn bungalow số sáu ngủ lại, vì đêm nay bão, con suối trên đường về Dốc Mây sẽ ngập. Vũ gật đầu chào cả bàn, rồi quay thẳng sang người mặc sơ mi trắng.
– Anh Tân. Tôi hỏi anh một câu thôi. Bốn chục héc ta thông sau đồi, công ty anh tính làm gì?
Tân mỉm cười, đặt đũa xuống ngay ngắn.
– Anh Vũ hỏi vậy là anh biết rồi. Bên em làm khu biệt thự nghỉ dưỡng. Thông thì giữ lại một phần làm cảnh quan.
– Một phần là bao nhiêu?
– Cái đó còn chờ thiết kế.
– Nước suối nhà tôi lấy từ dưới tán rừng đó. Cả cái dốc này đứng được là nhờ rễ thông. Chiều nay anh đi qua khúc bảy chưa? Đất đổ xuống đường rồi đó. Rừng còn nguyên mà đất đã đổ.
– Vũ. – Ông Khiêm nói, không to. – Rừng đó tôi trồng. Tôi bán thì tôi chịu.
– Ông trồng. Ông trồng ba chục năm. Rồi giờ ông bán cho người ta chặt.
Ông Khiêm không trả lời. Ông nâng cái ca men lên uống một ngụm, chậm rãi, như người uống thuốc.
Trâm đứng dậy múc thêm canh cho khách, đi một vòng quanh bàn. Lúc đi ngang chỗ Vũ, chị đặt vá canh vào bát anh, và Thiều thấy tay chị dừng lại trên vai anh chừng một nhịp thở, nhẹ như phủi bụi. Vũ cúi đầu ăn. Không ai khác để ý.
Chị không biết sao mình lại để ý. Có lẽ vì cả bữa giờ, đó là lần duy nhất Trâm chạm vào ai.
Sau bữa cơm, bà Sáu bưng ra một khay cà phê pha phin. Tân xin đường, bỏ vào ly của mình ba muỗng đầy, khuấy kêu leng keng.
– Anh Tân uống cà phê như uống chè đậu đen, – ông Khiêm nói. – Tôi bốn chục năm uống không đường, nhìn anh bỏ mà ê răng.
– Dạ, quen rồi anh. Dân Sài Gòn mà, không đường là đắng không nuốt nổi.
Thiều mỉm cười, không nói gì. Đường không làm cà phê bớt đắng, chỉ làm người uống bớt nhận ra. Nhưng nói câu đó ra lúc này thì chẳng khác gì chê khách.
Bà Ngự xua tay khi bà Sáu đưa ly tới.
– Tôi xin ly nước lọc thôi. Tôi không uống cà phê. Ba chục năm rồi.
– Ba chục năm lận? – Bà Sáu tròn mắt. – Rồi bà sống làm sao?
Cả bàn cười. Bà Ngự cũng cười, cầm ly nước lọc bằng hai tay.
Châu cũng lắc đầu. Kha đỡ lời: "Vợ cháu dạo này kiêng." Bà Ngự liếc sang Châu một cái, cái nhìn của người làm nghề nhìn ra triệu chứng, rồi thôi.
Thằng Bi hỏi bà Ngự, cái giọng tò mò trẻ con không biết cái gì là tế nhị:
– Bà có cháu không bà?
– Không con. Bà có một đứa con trai. Nó mất lâu rồi.
– Dạ.
Thằng bé im được mười giây. Rồi nó quay sang Thiều, khoe:
– Phòng con trên lầu nhìn thấy nhà ông ngoại đó cô. Tối nào ông cũng để đèn hiên. Ông nghe radio xong mới tắt.
– Ông nghe radio gì vậy con?
– Bản tin thời tiết. – Bà Sáu đáp thay, vừa dọn bát. – Tối nào ổng cũng pha một ca cà phê, ngồi nghe bản tin mười giờ. Uống cà phê lúc mười giờ khuya mà ngủ như chết. Bốn chục năm làm rừng, ổng nói, cái gì cũng bỏ được chứ cái ca mười giờ thì không.
Ông Khiêm gõ ngón tay lên cái ca men, cười, không cãi.
Đúng bảy giờ rưỡi, Thiều dọn bàn nếm ở sảnh lớn.
Chị làm từng việc theo thứ tự đã thành nếp trong tay. Sáu mẫu cà phê đã được rang từ tối qua, nghỉ gần một ngày, đựng trong sáu túi giấy kraft chỉ ghi mã số do Trâm đánh. Phong bì ghi tên chủ mẫu ứng với từng mã thì Trâm dán kín, cất trong ngăn kéo quầy lễ tân. Mỗi mẫu xay thô, cân đúng tám gam hai trên cái cân tiểu ly, đổ vào bát sứ. Nước đun tới khi nhiệt kế chỉ chín mươi ba độ thì rót, đầy tới miệng bát. Đồng hồ bấm bốn phút.
Trong bốn phút đó, chị đi một vòng quanh bàn, cúi xuống ngửi lớp váng cà phê nổi trên mặt từng bát. Rồi chị dừng lại, nhíu mày.
Mùi khuynh diệp. Rất nhẹ, nhưng có.
Chị nhìn quanh. Bà Ngự ngồi trên ghế bành gần cửa sổ, cách bàn chừng ba mét, tay ôm ly nước lọc. Bà đã tắm, tóc còn ẩm, nhưng mùi dầu từ chiều đã ngấm vào áo len.
– Bác Ngự ơi, cháu xin lỗi bác. Bác ngồi lui ra góc kia giùm cháu được không? Cái mũi cháu nó khó tính.
– Ừ, ừ. Tôi đã nói rồi mà. – Bà đứng dậy, ôm ly nước sang tận ghế bên lò sưởi. – Mũi cô thính dữ ha.
– Cái mũi là cái nghề của cháu mà bác.
Đồng hồ kêu. Thiều cầm cái muỗng nếm, nhẹ tay đẩy lớp váng cà phê dày ở bát thứ nhất, cúi sát mặt xuống hít một hơi. Đây là lúc mùi thơm bốc lên mạnh nhất. Rồi chị và ông Khiêm, người được mời làm giám khảo thứ hai, dùng hai cái muỗng hớt sạch lớp bọt trên mặt cả sáu bát.
Ông Khiêm làm thạo, như người đã nếm cả ngàn lần. Nhưng ông không tráng muỗng vào cốc nước sôi đặt sẵn trên bàn như Thiều. Ông tráng vào cái ca men của mình, rót đầy nước nóng từ ấm.
– Thói quen, – ông nói khi thấy chị nhìn. – Ca của tôi, nước của tôi. Muỗng sạch hơn.
Mười lăm phút sau, khi cà phê nguội xuống còn chừng bảy mươi độ, họ bắt đầu nếm.
Khách ngồi vây quanh xem như xem ảo thuật. Lúc Thiều xúc một muỗng cà phê, đưa lên môi rồi hút mạnh một cái nghe xì xụp như húp cháo nóng, thằng Bi phá lên cười, bị mẹ nó véo tai. Kha cũng cười. Chị đã quen. Phải hút mạnh như vậy, cà phê mới tản thành sương mịn phủ khắp lưỡi và vòm họng, mới nếm ra hết. Rồi chị nhổ vào cái cốc giấy, ghi điểm.
Mẫu số một chua sáng, hơi mỏng. Mẫu số hai ngọt, dễ uống, không có gì đặc sắc. Mẫu số ba vừa chạm lưỡi đã thấy một vị khói khét lẹt, như mùi củi ướt cháy âm ỉ.
– Sấy bằng lò củi, khói lọt vô buồng sấy, – Thiều nói, ghi chú. – Tiếc. Hạt tốt mà.
Ông Khiêm đặt muỗng xuống. Ông không ghi gì. Mấy giây sau ông mới cầm bút lên, viết một con số rồi gạch đi, viết lại.
– Tôi không ưa mùi khói, – ông nói. Ngắn gọn, không giải thích.
Mẫu số bốn thì khác hẳn. Thiều vừa hút vào đã thấy nó nở ra trong miệng: vị mận chín, mật ong rừng, một chút hoa trà ở cuối, và cái hậu vị kéo dài, ngọt như ngậm đường phèn. Chị liếc sang ông Khiêm. Ông đang nhắm mắt.
– Mẫu này, – ông mở mắt, nói chậm, – ai làm, người đó biết làm cà phê.
Chị thấy Vũ, đứng sau lưng mọi người, tựa vai vào khung cửa, hai tay đút túi quần. Mặt anh không động đậy. Nhưng anh rút một tay ra khỏi túi, rồi lại đút vào.
Mẫu số năm và số sáu không có gì để nói. Đến vòng nếm thứ hai, khi cà phê đã nguội hẳn, Thiều quay lại từng bát. Cà phê nóng thì ly nào cũng thơm, đó là điều chị vẫn dặn học trò. Để nguội mới lòi tật. Mẫu số hai, ngọt và dễ chịu lúc nóng, giờ để lộ một vị chua lên men nhẹ, dấu hiệu có vài trái chín nẫu lẫn vào. Còn mẫu số bốn, nguội rồi vẫn sạch, vẫn ngọt.
Kha, nãy giờ ngồi im, buột miệng hỏi:
– Bác Khiêm ơi, cái ca của bác chắc kỷ niệm lắm hả bác? Cháu thấy bác cầm suốt.
Ông Khiêm nhìn xuống cái ca trong tay như mới thấy nó lần đầu.
– Cái ca này theo tôi từ hồi tôi còn làm lâm trường. Ba chục năm. – Ông xoay nó một vòng. – Cháy rừng cũng không mất.
Choang.
Ly nước lọc trong tay bà Ngự rơi xuống nền gạch tàu, vỡ tan. Nước bắn lên ống quần bà. Bà ngồi im, hai bàn tay vẫn giữ nguyên tư thế như đang cầm ly.
– Bà ơi! – Bà Sáu chạy tới với cây chổi. – Bà có sao không?
– Không. Không sao. – Bà Ngự cúi xuống, định nhặt mảnh vỡ. – Tôi xin lỗi. Tay tôi nó tê. Già rồi.
– Bà ngồi yên, để tui!
Thiều nhìn mặt bà Ngự. Gương mặt ấy trắng bệch, môi mím chặt, nhưng đôi mắt thì không nhìn mảnh vỡ dưới chân. Đôi mắt ấy nhìn sang bàn nếm. Không, nhìn vào tay ông Khiêm.
Chị nghĩ tới huyết áp. Người bảy mươi tuổi, lên cao một ngàn hai trăm mét, đi xe đường đèo, lạnh. Chị định đứng dậy hỏi thì bà Ngự đã tự mình đứng lên, đi vào nhà vệ sinh, bước chân vững vàng.
Tám giờ bốn mươi, buổi nếm kết thúc. Thiều thu phiếu chấm của mình và của ông Khiêm, bỏ chung vào một phong bì.
– Mai chị tổng điểm, – ông Khiêm nói. – Rồi mình mở phong bì mã số. Ai giải nhất tôi mua hết lô của người đó, giá gấp đôi thị trường. Đã hứa thì làm.
– Mai anh còn ký bán đồi mà, – Thiều buột miệng.
Ông Khiêm nhìn chị, cười một cái, không nói gì.
Khách tản ra dần. Lúc Thiều đang lau mấy cái bát sứ, chị thấy qua ô cửa kính ở sảnh, bà Ngự đứng dưới hiên, chỗ cầu thang dẫn xuống lối sỏi. Ông Khiêm đi tới đó, cầm theo cái ca. Bà nói gì đó với ông, chừng một phút, giọng thấp, không nghe ra chữ nào qua tiếng mưa vừa nặng hạt trở lại.
Ông Khiêm đứng như trời trồng. Chị thấy ông đưa tay lên vuốt mặt một cái, chậm, từ trán xuống cằm. Rồi ông gật đầu.
Bà Ngự bung dù, đi về phía các căn bungalow. Ông Khiêm đứng thêm một lúc, nhìn mưa. Rồi ông đi ra cửa sau.
Năm phút sau, bà Sáu từ trong bếp nói vọng ra:
– Ủa, ông Khiêm để quên cây đèn bão nữa rồi nè. Ổng đi lên rồi hả?
– Hồi nãy trời ngớt, – Vũ đáp, đang xếp mấy cái bát vào chậu rửa giúp bà. – Ổng rọi đèn điện thoại đi rồi.
– Ổng y chang. Đi đâu cũng để quên. Thôi để đó, mai tui đem lên.
Cây đèn bão bằng sắt sơn xanh, chụp thuỷ tinh ám khói, treo trên cái đinh ngoài hiên sau, ngay cạnh cửa bếp. Thiều nhìn nó một giây, rồi về phòng.
Chị ngồi cộng điểm, ghi chú dưới ánh đèn bàn. Ngoài cửa sổ, mưa đã thành tiếng ào ào liên tục trên mái vòm nhựa của giàn phơi, như có ai đổ sỏi. Gió bắt đầu rít qua khe cửa. Chị thử gọi cho con gái. Không có sóng. Chị nhắn tin, cái tin nằm im với dấu đồng hồ quay mãi.
Lúc chín giờ ba mươi tám, chị nhìn đồng hồ vì đã cộng xong điểm mẫu số bốn. Tám mươi sáu điểm. Điểm cao nhất chị chấm trong năm nay.
Hai phút sau, một tiếng sét nổ ngay trên đầu, gần đến mức chị nghe cả tiếng rắc của không khí bị xé ra. Đèn bàn chớp một cái, rồi tắt.
Cả đồi Sương chìm vào bóng tối. Chỉ còn tiếng mưa.
Và trong tiếng mưa, rất xa, chị nghe như có ai đó gọi. Một tiếng thôi. Rồi thôi.
— Hết chương 2 —

🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe