Chương 13: Ấm trà nguội dần
Chín giờ tối, Thiều pha một ấm trà.
Trà Thái Nguyên chị mang theo trong vali, gói giấy bạc, vẫn để dành uống giữa các buổi nếm cho sạch miệng. Chị tráng ấm bằng nước sôi, tráng hai cái chén, đổ trà vào, rót nước, chắt nước đầu. Rồi chị bưng khay sang gõ cửa phòng khách số hai.
Bà Ngự mở cửa. Bà đã thay một bộ đồ bộ màu xanh nhạt, choàng thêm cái áo len cũ, tóc chải gọn. Trên bàn có một cuốn sách mở úp, cặp kính để trên gáy sách.
– Cháu thấy bác không uống cà phê, cháu mời bác ấm trà.
Bà Ngự nhìn cái khay, rồi nhìn chị. Một cái nhìn dài.
– Vô đi cô.
Hai người ngồi ở hai đầu cái bàn nhỏ. Thiều rót trà. Nước trà vàng xanh, thơm cốm non. Bà Ngự cầm chén bằng hai tay, như cách bà cầm ly nước lọc tối hôm đó, đưa lên mũi ngửi trước khi nhấp.
– Trà ngon, – bà nói. – Nước sôi tới đâu cô?
– Tám mươi lăm độ thôi bác. Sôi già là trà đắng.
– Cô cái gì cũng đo.
– Nghề cháu mà bác.
Bà Ngự cười. Một lúc lâu không ai nói gì. Ngoài kia, máy nổ còn chạy, theo lịch tới mười giờ mới tắt. Tiếng máy rền rền qua vách gỗ, đều như tiếng thở.
– Bác làm hồi sức mấy năm hả bác? – Thiều hỏi.
– Ba mươi hai năm. Từ hồi hai mươi ba tuổi tới hồi về hưu. Toàn ca đêm là chính.
Bà kể. Bà kể về những đêm có ba người vào cùng lúc, một tai nạn giao thông, một người uống thuốc trừ sâu, một ông cụ nhồi máu cơ tim. Kể về cái máy thở đầu tiên của khoa, cả bệnh viện kéo tới xem như xem tivi màu. Kể về cách bà học được, sau mười năm, nhìn mặt một người là biết người đó sẽ qua được đêm nay hay không.
– Mình không nói ra đâu. Mình vẫn làm hết sức. Nhưng mình biết. – Bà xoay cái chén trong tay. – Có lúc ép tim cho người ta, ép tới phút thứ hai mươi, bác sĩ còn ép, mình biết là hết rồi. Mình biết từ phút thứ hai.
– Biết bằng cái gì bác?
Bà Ngự không trả lời ngay. Bà hỏi về Thiều. Chồng cô đâu, sao đi một mình. Thiều kể. Chị kể ngắn, như mọi lần chị kể chuyện này với người lạ: anh Quý lái xe tải chở cà phê ra cảng, sáu năm trước, một đêm mưa, xe mất phanh ở một con đèo, lao xuống vực.
– Người ta có nói thật với cô không? – Bà Ngự hỏi.
Thiều hơi ngạc nhiên vì câu hỏi.
– Dạ có. Công an xuống tận nơi, đo vết bánh, chụp ảnh, kiểm tra cái xe. Người ta nói với cháu từng chút. Phanh mòn, đường trơn, ảnh không say, không ngủ gật. Cháu đọc biên bản ba lần. Đau thì đau, mà cháu biết hết.
Bà Ngự gật đầu chậm.
– Vậy là cô may.
– May hả bác?
– May. Có người mất người thân rồi, còn mất thêm cái sự thật. Mất hai lần. – Bà nhấp một ngụm trà. – Cô hỏi tôi biết bằng cái gì hả? Bằng tay. Tay mình đặt lên ngực người ta, ép xuống, nó không còn trả lại cái lực đó nữa. Như ép lên bao gạo. – Bà ngừng. – Cô hỏi cái này làm chi?
– Cháu tò mò.
– Cô không tò mò. Cô hỏi.
Thiều không chối. Chị rót thêm trà cho bà.
– Bác. Hôm sáng ngày thứ hai, bác nói ông Khiêm mất khoảng mười một giờ tới một giờ. Rồi hôm qua bác nói bác đoán sai, vì người nằm ngoài mưa lạnh nhanh hơn, cứng nhanh chậm khác.
– Ừ.
– Người nằm ngoài lạnh thì cứng nhanh hơn hay chậm hơn bác?
– Chậm hơn, – bà Ngự đáp ngay, như trả lời sinh viên y tá. – Trời lạnh thì cái cứng tới chậm, mà giữ lâu. Người mất trong phòng ấm thì hai ba tiếng đã thấy cứng hàm, trời lạnh có khi lâu hơn. Nhiệt độ thì ngược lại, ngoài mưa gió thì người lạnh nhanh hơn trong nhà nhiều. Hai cái đó mà gộp lại để đoán giờ thì…
Bà dừng lại.
Thiều không nói gì. Chị chỉ nhìn bà.
Bà Ngự đặt chén trà xuống.
– Thì người làm nghề ba mươi hai năm như tôi, nếu muốn, sẽ biết nên nói thế nào cho người ta tin, – bà nói hết câu. Giọng bà không đổi. – Cô muốn nói vậy phải không?
– Cháu không muốn nói gì hết bác.
– Cô muốn. Cô chỉ không biết nói sao cho khỏi mất lòng bà già. – Bà Ngự cười, nhưng mắt bà không cười. – Cô ngửi ra dầu khuynh diệp trên cái tách. Chị Sáu kể với tôi chuyện ba miếng bông gòn rồi. Chỉ không biết là đang kể cho ai nghe. Chắc cô cũng lật dép tôi lên coi rồi. Cô biết hồi nãy tôi nói lộn chuyện đi lối sau. Cô đỡ tôi xuống dốc sáng hôm đó, cô nhớ mà.
– Dạ. Cháu nhớ.
Hai người đàn bà ngồi đối diện nhau, giữa họ là ấm trà đang nguội dần. Thiều nhìn nước trà trong chén mình. Trà nguội thì chát lên, vị cốm non lui xuống, cái đắng ở cuối lưỡi lộ ra rõ hơn. Chị không uống nữa.
– Bác có một người con trai, – Thiều nói. – Bác nói nó mất lâu rồi.
– Ừ.
– Mất năm nào bác?
Bà Ngự nhìn chị rất lâu. Rồi bà nhìn ra cửa sổ, nơi ngoài trời tối đen, chỉ có tiếng mưa bắt đầu rơi lại trên mái tôn.
– Năm chín lăm.
– Mất sao bác?
– Tai nạn lao động. – Bà ngừng. – Cháy.
Thiều cảm thấy hai bàn tay mình lạnh đi, giống như cái buổi sáng trong phòng thằng Bi.
– Bác. Nó bao nhiêu tuổi?
Bà Ngự không trả lời câu đó. Bà đứng dậy, chậm, một tay chống lên mặt bàn. Bà đi ra cửa, mở cửa, đứng đó, như ra hiệu cho khách về.
– Cô Thiều. Tôi xin cô một chuyện. Cô cho tôi tới sáng mai. – Bà nói, thấp và rõ. – Sáng mai tôi nói hết. Tôi không đi đâu được, cô biết rồi. Đường không có, cái lối sau cũng sập rồi. Tôi chỉ xin một đêm.
Thiều đứng dậy. Chị bưng cái khay lên. Đi tới cửa, chị dừng lại ngay trước mặt bà.
– Bác. Bác có sợ không?
Bà Ngự nhìn chị. Trong một thoáng, Thiều thấy gương mặt ấy không còn là gương mặt của người y tá trưởng ra lệnh cho cả bàn ăn im lặng. Đó là gương mặt của một bà già bảy mươi tuổi, mệt, rất mệt.
– Ba chục năm nay tôi sợ một chuyện thôi, – bà nói. – Là chết đi mà không ai biết sự thật. Giờ thì tôi không sợ nữa.
Rồi bà khép cửa lại.
Thiều đứng ngoài hành lang, tay bưng khay trà nguội. Chị đứng lâu tới mức tiếng máy nổ ngoài kia tắt hẳn lúc nào chị không hay, đèn hành lang phụt tắt, chỉ còn ánh nến từ sảnh hắt vào.
Chị không gõ cửa lần nữa. Chị không biết mình nên làm gì. Chị không phải công an. Chị không có quyền bắt ai ngồi lại trả lời. Và một bà già bảy mươi tuổi trên một cái đồi bị cô lập, đường xuống núi sập, lối sau cũng sập, thì cũng chẳng đi đâu được.
Chị về phòng mình, ngồi xuống giường trong bóng tối.
Chị nghĩ tới việc gõ cửa phòng Trâm. Rồi chị nghĩ tới Trâm nghe chuyện này lúc mười giờ đêm, một mình với thằng Bi, ba nằm trên đồi, người thương đang ở đâu đó giữa rừng. Chị không gõ.
Chị nghĩ tới Tân, tới Kha. Hai người đàn ông, một bà cụ. Chị nghĩ tới chuyện ai đó sẽ đứng gác trước cửa phòng bà Ngự, và chị biết chị không muốn cái cảnh ấy xảy ra trong căn nhà này, trước mặt thằng Bi. Bà Ngự xin một đêm. Bà ấy là người, suốt bốn ngày nay, đã xoa dầu cho một cô gái say xe, đã bẩy đá cho xe qua, đã chặn một ông giám đốc lại giữa bàn ăn.
Nhưng chị cũng sợ. Không phải sợ bà Ngự. Chị sợ một bà già bảy mươi tuổi, đêm nay, một mình với ba mươi năm chuyện cũ, sẽ làm một điều gì dại dột.
Chị kéo cái ghế ra sát cửa phòng mình, hé cửa một khe. Từ đây chị thấy được cửa phòng khách số hai, một vệt sáng mờ của ngọn nến bà Ngự thắp lọt ra dưới khe cửa. Chị ngồi xuống, kéo áo khoác kín cổ, quyết định thức.
Chị ngồi được chừng mười lăm phút thì có tiếng gõ cửa. Không phải ba tiếng cách quãng của Châu. Một tràng gõ nhỏ, liên tục, như tiếng chim gõ kiến.
Thằng Bi đứng ngoài, tay cầm một cây đèn pin, tay ôm một vật gì đó vào ngực.
– Bi? Sao con chưa ngủ?
– Mẹ con làm bàn thờ cho ông ngoại ngoài sảnh. Mẹ nói mai cô cho thì mẹ đem cái ca của ông xuống để lên bàn thờ. Mà con lấy luôn rồi. Hồi chiều con lén chạy lên theo, lúc cô với mẹ đứng ngoài hiên, con vô cửa trước lấy. Con giấu trong cặp. – Nó đưa vật trong tay ra. – Cô rửa giùm con được không? Mẹ nói cô biết rửa ca cà phê. Con muốn rửa cho thật sạch. Ông ngoại thích sạch.
Thiều nhận lấy. Cái ca men trắng. Bông sen đỏ phai. Miệng sứt một vết bằng hạt đậu.
Chị định nói với thằng bé rằng lẽ ra không được lấy gì ra khỏi căn nhà ấy. Nhưng nhìn gương mặt nó, chị không nói được. Chị đã chụp ảnh cái ca từ sáng ngày thứ hai, nằm úp trên giá phơi, khô cong. Chị sẽ nói với công an.
– Ừ. Cô rửa cho con.
Chị bật đèn pin của thằng bé lên, rọi vào lòng ca. Sạch, khô. Chị xoay cái ca trong tay, ngắm lớp men đã ngả vàng, vết sứt nơi miệng lộ ra lớp sắt đen. Chị lật ngược nó lên.
Dưới đáy ca, nơi lớp men trắng mòn đi vì bao nhiêu năm đặt lên bàn, có mấy nét gì đó. Không phải in. Là khắc, khắc bằng một vật nhọn, như mũi đinh, nét chữ run và vụng, mấy chữ đã mờ gần hết, phải nghiêng ánh đèn mới thấy.
Chị nghiêng ánh đèn.
Hai chữ. Một con số.
Út Lâm. 94.
– Cô ơi, – thằng Bi kéo áo chị. – Ông ngoại tên Khiêm mà. Ai là Út Lâm vậy cô?
— Hết chương 13 —

🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe