AI Truyện
Cái ca men sứt miệng trên đồi Sương

🔍 Trinh thám

Mười hai khúc quanh

Cái ca men sứt miệng trên đồi Sương · Chương 1/20 · Sáng tác: AI Truyện

📖 12 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 1: Mười hai khúc quanh

– Cô đừng nhìn xuống vực. Cô nhìn cái gáy em nè.

A Toan nói mà không quay đầu lại, hai tay vẫn giữ vô lăng ở đúng vị trí mười giờ mười phút như người ta dạy trong trường lái. Chiếc xe bảy chỗ màu xanh rêu đang bò lên khúc quanh thứ năm của con dốc. Bên phải là vách đất đỏ lởm chởm rễ cây, bên trái là một khoảng trắng đục.

Thiều nhìn cái gáy anh tài xế. Gáy rám nắng, tóc cắt sát, có một vết sẹo nhỏ hình lưỡi liềm. Chị nhìn nó như người ta nhìn cột mốc. Tay phải chị nắm chặt cái muỗng nếm bằng thép trong túi áo khoác, cái muỗng tròn, sâu lòng, cán ngắn, theo chị đi chấm cà phê mười chín năm nay. Sáu năm rồi, lần nào xe qua đèo chị cũng nắm nó như vậy.

– Mười hai khúc lận, – A Toan nói tiếp. – Qua khúc bảy là đỡ. Khúc bảy hay sạt.

– Hay sạt mà vẫn đi à anh? – Cô gái trẻ ngồi băng giữa hỏi, giọng Hà Nội nhỏ nhẹ, mặt tái như tàu lá.

– Đường độc đạo mà chị. Không đi đường này thì đi bộ qua rừng hai ngày.

Cô gái tên Châu. Chồng cô, Kha, một kỹ sư phần mềm, ngồi cạnh, giơ điện thoại lên sát kính xe, xoay ngang xoay dọc như đang dò mạch nước. Từ lúc xe rời ngã ba có trạm kiểm lâm, anh đã làm động tác ấy không dưới hai chục lần.

– Mất sóng hẳn rồi em ạ, – anh nói, không rõ với ai.

– Thì anh cất đi. Đi tuần trăng mật chứ có phải đi công tác đâu.

– Anh biết rồi.

Người thứ tư trên xe ngồi ở hàng ghế cuối, một bà cụ tóc bạc cắt ngắn, đeo kính gọng nhựa, mặc áo gió màu cà phê sữa. Trên đùi bà là một túi quýt, bà bóc từng múi bằng những ngón tay gầy nhưng không run. Từ đầu chuyến tới giờ bà chỉ lên tiếng đúng một lần, lúc Châu nôn khan vào túi ni lông ở khúc quanh thứ hai:

– Con ngửa cổ ra sau, thở bằng mũi. Đưa cổ tay đây.

Bà lấy trong túi ra một lọ thuỷ tinh nhỏ nút bấc, đổ ra đầu ngón tay một giọt dầu trong vắt, xoa lên cổ tay và hai bên thái dương của Châu. Mùi khuynh diệp bốc lên đặc quánh cả cái xe, hăng, mát, xộc thẳng lên óc. Thiều nhắm mắt. Mùi ấy sẽ ám vào áo chị ít nhất tới tối. Tối nay chị phải nếm sáu mẫu cà phê.

Chị không nói gì. Người ta đang say xe, mình đi nói chuyện mùi hương thì vô duyên.

Bà cụ như đọc được, cười nhẹ:

– Cô là người nếm cà phê phải không? Tôi nghe anh tài xế nói. Tôi xin lỗi trước nghen, dầu này tôi tự ngâm, nặng mùi lắm. Tối tôi tắm kỹ.

– Dạ không sao bác. Mà bác làm sao biết nghề cháu ngại mùi?

– Hồi trước tôi làm y tá ba chục năm. Có một ông bác sĩ gây mê, ngày nào ổng cũng mắng tôi xức nước hoa. Mà tôi có xức đâu, mùi xà bông thôi. – Bà đưa cho Thiều một múi quýt. – Tôi tên Ngự. Lương Thị Ngự. Người Đà Nẵng.

– Cháu tên Thiều. Ở Buôn Ma Thuột.

Múi quýt mỏng vỏ, ngọt lừ, hơi chua ở cuối. Chưa kịp khen thì xe chồm lên một cái, rồi đứng khựng lại.

Khúc thứ bảy. Đá với đất đổ tràn xuống nửa mặt đường, một tảng to cỡ cái bàn ăn nằm chắn ngay chính giữa. Nước đỏ quạch chảy thành mấy dòng nhỏ từ vách núi, róc rách như ai mở vòi.

A Toan kéo phanh tay, mở cửa bước xuống. Anh đứng nhìn vách núi một lúc lâu, không nhìn tảng đá. Rồi anh đi tới, cúi xuống, nhặt một nắm đất ở chân vách lên bóp thử, thả ra, chùi tay vào quần.

– Đất chưa no nước, – anh nói khi quay lại. – Còn đi được. Anh Kha xuống phụ em với.

Kha nhìn ra ngoài trời mưa, rồi nhìn đôi giày thể thao màu trắng của mình. Chưa kịp quyết thì bà Ngự đã mở cửa sau, kéo mũ áo gió trùm lên đầu, xuống trước.

– Bác ơi, bác ngồi trong xe đi bác!

– Ba cục đá nhỏ thôi mà. Bảy mươi tuổi chớ chưa phải chín mươi. Hồi trẻ tôi khiêng giường bệnh nhân một trăm ký đó con.

Cuối cùng Kha cũng xuống. Thiều cũng xuống, vì ngồi một mình trên xe nhìn ra vực còn đáng sợ hơn đứng dưới mưa. Họ lăn được mấy tảng nhỏ xuống mép đường, còn tảng to thì A Toan lấy một thanh sắt trong cốp xe ra bẩy, nhích từng chút sang phía vách. Bà Ngự đứng sau lưng anh, chỉ chỗ đặt thanh sắt, chỗ kê hòn đá làm điểm tựa, giọng điềm tĩnh như đang hướng dẫn y tá mới chuyển bệnh nhân từ băng ca sang giường.

Mười lăm phút sau, mặt đường trống đủ một bánh xe ô tô với một gang tay dư. A Toan cho xe qua từ từ, Kha đi bộ phía trước làm hiệu. Lúc mọi người lên lại xe, áo ai cũng ướt nhẹp, giày ai cũng dính một lớp đất đỏ nhão như cám heo.

– Mai mốt mưa to là khúc này đi luôn, – A Toan nói, không có vẻ gì đùa. – Đồi Sương là cái nồi úp. Đường đi xuống có một đường thôi.

Thiều nhìn qua kính sau. Cái chỗ sạt nhỏ dần trong màn mưa, như một vết cắn vào sườn núi.

Đồi Sương hiện ra lúc ba giờ rưỡi chiều. Trời chưa tối nhưng đã xám như sáu giờ.

Đó là một cái đồi bằng phẳng hiếm hoi giữa những sườn núi dựng đứng, giống như ai lấy tay đè dẹp đỉnh núi xuống. Những hàng cà phê chè trồng theo đường đồng mức, lá xanh đậm, bóng như thoa dầu, trái đã chín lác đác đỏ au trên cành. Giữa đồi có một ngôi nhà gỗ hai tầng mái ngói, bên phải là mấy căn nhà nhỏ cũng bằng gỗ, mái lợp tôn sơn đỏ. Phía sau ngôi nhà chính, Thiều thấy một mái vòm bằng nhựa trong mờ, dưới đó là những giàn phơi cà phê trải dài. Và trên cao hơn nữa, lưng chừng sườn đồi phía bắc, một căn nhà gỗ nhỏ một mình một cõi, nối xuống với cái mái vòm bằng một con đường bậc đá ngoằn ngoèo.

Ông chủ đứng chờ ở bậc thềm nhà chính. Một người đàn ông dáng cao, gầy, tóc muối tiêu cắt kiểu bộ đội, mặc áo len cổ lọ màu xám đã sờn khuỷu tay. Ông cầm trong tay một cái ca men trắng, loại ca ngày xưa cơ quan nào cũng phát. Lớp men đã ngả vàng, trên thân có hình một bông sen đỏ phai gần hết, miệng ca sứt một vết nhỏ bằng hạt đậu, lộ ra lớp sắt đen bên dưới.

– Chào mừng tới đồi Sương. Tôi là Khiêm. Bàng Văn Khiêm. – Ông giơ cái ca lên như nâng ly. – Đường xá vậy mà mọi người vẫn lên được, giỏi. Bà Sáu ơi, khách tới!

Thiều để ý cái cách ông cầm ca: bằng tay trái, ngón cái chặn lên quai, ba ngón còn lại ôm lấy thân ca dù cà phê trong đó chắc còn nóng. Bàn tay của người làm ngoài trời lâu năm, da dày như vỏ cây.

Cũng lúc ấy chị nghe sau lưng có tiếng đánh rơi. Túi quýt của bà Ngự lăn xuống bậc thềm, mấy quả quýt nảy tưng tưng trên sỏi. Bà đứng sững, mắt nhìn chằm chằm vào tay ông chủ.

– Ui chao, – bà nói, rồi cúi xuống nhặt. – Già rồi, tay chân lóng ngóng.

Kha với Châu xúm lại nhặt giúp. Ông Khiêm cũng bước xuống, một tay vẫn cầm ca, một tay nhặt quả quýt lăn tới chân mình, đưa lại cho bà. Bà Ngự đón lấy, cảm ơn, rồi đi thẳng vào nhà, không nhìn lại.

Ông Khiêm đứng nhìn theo một giây. Rồi ông quay sang Thiều, chìa tay.

– Chị Thiều phải không? Tôi đọc phiếu chấm của chị ở cuộc thi năm ngoái dưới Buôn Ma Thuột. Chị cho mẫu của tôi bảy mươi chín điểm rưỡi.

– Dạ, chắc vậy. Em không nhớ mẫu nào của ai. Em nếm mù mà anh.

– Tôi biết. Tôi mời chị lên đây là vì vậy. – Ông cười, mắt nheo lại thành mấy nếp nhăn sâu. – Chị ghi chú "để nguội có vị chát gỗ". Tôi về nếm lại, đúng vậy. Lô đó hái non.

Một người phụ nữ khoảng ngoài ba mươi bước ra từ trong nhà, tay ôm một xấp khăn bông. Gương mặt chị có nét của ông Khiêm nhưng mềm hơn, và một vẻ mệt mỏi đã thành nếp.

– Ba, ba để khách vô nhà đã. Mưa ướt hết rồi.

– Con gái tôi, Hoài Trâm. Đồi Sương bây giờ là nó lo hết, tôi chỉ giữ vườn với giữ cái miệng.

Trâm gật đầu chào, đưa khăn cho từng người, nụ cười vừa đủ lịch sự. Sau lưng chị, một thằng bé chừng chín, mười tuổi thò đầu ra, tóc dựng đứng, áo thun in hình khủng long.

– Ông ngoại, cô này là cô nhổ cà phê hả?

– Bi! Nói cái gì vậy con.

Thiều bật cười. Chị ngồi xuống cho ngang tầm thằng bé:

– Cô không nhổ cà phê. Cô nếm, rồi cô nhổ. Hai chuyện khác nhau.

– Sao nếm rồi không nuốt?

– Nếm sáu ly mà nuốt hết thì tối nay cô không ngủ được.

Thằng bé nghĩ một lát, gật đầu như thấy hợp lý, rồi chạy biến vào trong.

Phòng của Thiều ở tầng trệt nhà chính, phòng khách số một, cửa sổ nhìn ra giàn phơi. Mấy căn nhà gỗ nhỏ, mà ở đây gọi là bungalow, mái tôn mùa mưa hay dột, Trâm giải thích, nên chị được xếp ở trong nhà cho gần chỗ nếm. Chị mở vali lấy ra bộ đồ nghề: sáu cái bát sứ trắng, cái cân tiểu ly, nhiệt kế, đồng hồ bấm giờ, xấp phiếu chấm.

Từ cửa sổ, chị thấy dưới mái vòm có hai người đàn ông đang đứng giữa các giàn phơi. Một người là ông Khiêm, vẫn cầm cái ca men. Người kia trẻ hơn, chừng gần bốn mươi, vai rộng, mặc áo mưa bộ màu xanh lá đã bạc, tay cầm một con dao rựa.

Chị không nghe được họ nói gì. Chị chỉ thấy người trẻ nói càng lúc càng nhanh, tay không cầm dao chém chém vào không khí. Ông Khiêm đứng yên, uống một ngụm từ cái ca. Rồi người trẻ quay ngoắt đi, giơ con dao rựa lên.

Thiều đứng bật dậy.

Con dao chém phập vào sợi dây dù buộc một tấm bạt đang bay phần phật ở góc giàn phơi. Sợi dây đứt, tấm bạt rơi xuống. Người trẻ túm lấy tấm bạt, kéo căng ra, buộc lại vào cột cho chặt, động tác dứt khoát của người làm vườn quen tay. Rồi anh ta đi thẳng ra phía chòi xe, không ngoái lại.

Chị ngồi xuống, thấy mình buồn cười. Nghề nếm dạy chị đừng kết luận khi mới ngửi mùi bột khô. Phải chờ rót nước, chờ bốn phút, chờ phá váng, chờ nguội. Vậy mà vừa rồi chị suýt kêu lên.

Bữa cơm tối dọn lúc sáu giờ trong phòng ăn có lò sưởi bằng gạch. Bà Sáu, người nấu bếp, một người đàn bà ngoài năm mươi, thấp đậm, cả nhà quen gọi là chị Sáu, giọng Quảng Ngãi đặc sệt, bưng ra nồi canh lá bép nấu tôm khô, đĩa gà thả vườn nướng muối ớt, ống cơm lam, rổ rau rừng luộc với chén mắm nêm pha thơm.

– Mắm nêm này tui mang từ Mộ Đức lên đó nghen. Ăn thử coi, ai không quen thì có nước mắm đây.

Chiếc radio pin nhỏ trên bệ lò sưởi đang phát bản tin. Giọng phát thanh viên rè rè qua cái loa đã cũ. Cơn bão ngoài biển đã đổi hướng, dự kiến đêm nay đổ bộ vào đất liền. Mưa rất to ở các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên. Nguy cơ sạt lở đất cao ở vùng núi.

Ông Khiêm với tay vặn nhỏ âm lượng. Ông nhìn quanh bàn, đếm khách bằng mắt.

– Thôi kệ nó. Tôi sáu mươi tư tuổi, ở đồi này mười lăm năm, bão nào cũng qua. Ở đây mình có máy nổ, có gạo, có bà Sáu. Bão mấy ngày cũng không sao. – Ông đặt cái ca men xuống cạnh bát cơm. – Có điều tôi nói trước một câu. Đêm nay mưa to, ai cũng ở yên trong nhà mình. Đừng đi lung tung. Trên đồi này mưa mà đi lung tung là có chuyện.

Rồi ông nói thêm, giọng nhẹ như kể chuyện thời tiết:

– Sáng mai chín giờ tôi ký giấy bán đồi Sương cho công ty anh Tân đây. Mọi người cứ ăn ngon, coi như tiệc chia tay luôn.

Cả bàn im phắc. Người đàn ông ngồi đối diện ông Khiêm, áo sơ mi trắng là lượt, đồng hồ kim loại sáng loáng trên cổ tay, hơi cúi đầu như nhận lời khen. Trâm đặt đũa xuống, không nói gì. Thằng Bi nhìn mẹ, rồi nhìn ông ngoại.

Và cánh cửa phòng ăn bật mở. Người đàn ông mặc áo mưa xanh lá đứng đó, nước nhỏ ròng ròng xuống sàn gỗ.

– Ông bán đi, – anh ta nói. – Rồi ông coi đêm nào ông còn ngủ được.

— Hết chương 1 —

Mục lục Cái ca men sứt miệng trên đồi Sương

  1. 1Mười hai khúc quanh12 phút đọc
  2. 2Sáu cái bát sứ11 phút đọc
  3. 3Đêm không ai ngủ10 phút đọc
  4. 4Hai cái tách sứ10 phút đọc
  5. 5Đất sét tím9 phút đọc
  6. 6Cái đèn trắng nằm yên10 phút đọc
  7. 7Ai xách cây đèn bão9 phút đọc
  8. 8Ba muỗng đường10 phút đọc
  9. 9Ba miếng bông gòn10 phút đọc
  10. 10Năm chữ trong gió10 phút đọc
  11. 11Nếm lại khi nguội9 phút đọc
  12. 12Dấu dép dưới mái hiên9 phút đọc
  13. 13Ấm trà nguội dần9 phút đọc
  14. 14Út Lâm9 phút đọc
  15. 15Người mẹ ở lâm trường Tân Lập9 phút đọc
  16. 16Hai phút im lặng10 phút đọc
  17. 17Hai chén trà trên mỏm đá9 phút đọc
  18. 18Những người từ phía đông9 phút đọc
  19. 19Phong bì mã số10 phút đọc
  20. 20Đi xuống mười hai khúc quanh11 phút đọc

Về truyện này

Cái ca men sứt miệng trên đồi Sương là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Đức của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →