Chương 15: Người mẹ ở lâm trường Tân Lập
Trâm không ngồi. Chị đứng tựa lưng vào khung cửa buồng, cái ca men ôm trước ngực. Thiều kéo một cái ghế đẩu ở gian ngoài vào, ngồi xuống cách bà Ngự một quãng.
Ngọn nến cháy đứng, không lay, sáp chảy thành một vệt dài xuống cái đĩa. Ngoài cửa sổ, sương trắng ép sát vào kính.
– Nó tên Đặng Văn Lâm, – bà Ngự nói. – Nhà gọi là Út Lâm, mà nó là con một. Ba nó đặt vậy cho vui, nói sau này đẻ thêm thì đổi. Rồi ba nó mất năm nó lên ba, không đẻ thêm được ai nữa. Nên nó là Út hoài.
Bà kể chậm. Giọng Đà Nẵng của bà, ngày thường mềm đi sau ba mươi năm nói với bác sĩ, với bệnh nhân khắp nơi, giờ nặng hẳn lại, chữ nào cũng chậm, cũng rõ, như người đọc bản khai.
– Nó học không giỏi. Nó hiền. Nó hen suyễn từ nhỏ, mùa nồm là thở khò khè, tôi ôm nó ngồi suốt đêm. Nó sợ khói thuốc lá như sợ ma. Ai hút thuốc gần nó là nó đi chỗ khác, ho sù sụ. – Bà ngừng lại. – Cô nhớ cái đó giùm tôi. Nó sợ khói thuốc lá.
– Dạ.
– Năm chín tư nó thi rớt đại học. Có một ông bà con nói lâm trường Tân Lập trên này tuyển công nhân trồng rừng, có lương, có chỗ ở. Nó muốn đi. Tôi không muốn. Nó nói mẹ nuôi con một mình mười mấy năm rồi, giờ để con đi làm phụ mẹ. Tôi cản không được.
Bà nhìn cái ca men trong tay Trâm.
– Hôm nó đi, tôi ra chợ Cồn mua cho nó cái ca đó. Cái ca men, sơn bông sen. Hai ngàn rưỡi. Tôi dặn nó, lên rừng uống nước bằng cái này, đừng uống nước suối bằng tay. Tối đó tôi lấy cây đinh, khắc tên nó dưới đáy, khắc cả năm. Tôi nói ở chỗ đông người, đồ ai cũng giống nhau, có tên thì không ai lấy. Nó cười tôi, nói mẹ làm như con đi lính.
Trâm cúi xuống nhìn đáy cái ca. Ngón tay chị lại miết lên mấy nét khắc.
– Nó đi được mười một tháng. Viết về cho tôi bốn lá thư. Lá nào cũng khen ông kỹ sư đội trưởng. Kỹ sư Khiêm. Nói ông Khiêm trẻ mà giỏi, ông Khiêm thương anh em, ông Khiêm hứa cuối năm cho nó đi học lớp trung cấp lâm nghiệp. – Bà cười, cái cười chua chát. – Nó thần tượng ông ấy.
Bà im lặng một lúc.
– Ngày mười bốn tháng Ba năm chín lăm, lâm trường cháy. Cháy cả một tiểu khu. Người ta gửi điện về nói con bà mất rồi. Tôi đi xe đò hai ngày lên tới nơi thì người ta đã chôn nó rồi, ở cái nghĩa trang nhỏ của lâm trường, vì trời nóng, không giữ được. Người ta đưa cho tôi một cái túi đồ của nó. Mấy bộ quần áo, mấy cuốn sách, mấy lá thư tôi gửi. Không có cái ca.
– Rồi người ta đưa cho tôi đọc một tờ biên bản. Biên bản nói nguyên nhân cháy là do công nhân Đặng Văn Lâm hút thuốc lá trong giờ nghỉ trưa, vứt tàn thuốc vào đám thực bì khô, gặp gió lớn, bùng cháy. Công nhân Lâm cố dập lửa, không kịp thoát ra. Có chữ ký của đội trưởng, kỹ sư Bàng Văn Khiêm. Có chữ ký của ba người làm chứng trong tổ.
Bà ngẩng lên nhìn Thiều.
– Con tôi hen suyễn. Con tôi sợ khói thuốc như sợ ma.
Không ai nói gì. Ngọn nến lách tách một tiếng nhỏ.
– Tôi nói với họ như vậy. Tôi nói với giám đốc lâm trường, nói với ông Khiêm, nói với ai tôi gặp được. Người ta nhìn tôi như nhìn một bà mẹ mất con nói bậy. Ông Khiêm thì không nhìn tôi. Ổng đứng cúi đầu, ổng nói chị bình tĩnh, ổng nói em rất tiếc. Có ba người làm chứng. Con tôi chết rồi, không cãi được. Lâm trường không bồi thường gì, vì lỗi là của người chết. Tôi về Đà Nẵng. Tôi đi làm lại. Tôi bỏ cà phê.
– Vì sao bác bỏ cà phê? – Thiều hỏi, rất khẽ.
– Vì sáng nào tôi pha cà phê, tôi cũng nhớ tới cái ca. Tôi không biết nó ở đâu. Tôi nghĩ chắc nó cháy rồi, chảy rồi, theo con tôi.
Bà nhìn cái ca trong tay Trâm. Lần này bà nhìn lâu.
– Ba mươi năm, cô Thiều. Ba mươi năm tôi sống với cái câu "con bà hút thuốc làm cháy rừng". Tôi biết là sai. Mà biết thì làm được gì. Cho tới năm ngoái.
Bà kể. Về hưu, bà đi làm thiện nguyện ở một phòng bệnh dành cho người già neo đơn sắp mất, mỗi tuần hai buổi. Tháng Tám năm ngoái, ở đó có một ông cụ người Quảng Nam, ung thư gan giai đoạn cuối, gầy như que củi. Ông nghe y tá gọi tên bà, nghe bà nói giọng Đà Nẵng, ông hỏi bà có phải mẹ của thằng Lâm ở lâm trường Tân Lập không. Bà nói phải.
– Ổng khóc. Ổng nắm tay tôi, ổng khóc như con nít. Ổng tên Tư. Ổng là một trong ba người ký làm chứng. – Giọng bà Ngự vẫn đều. – Ổng kể với tôi. Chiều hôm đó, đoàn kiểm tra sắp về nghiệm thu, tổ còn cả chục đống thực bì chưa dọn. Mùa khô, gió thổi rát mặt. Lâm trường có lệnh cấm đốt. Ông Khiêm ra lệnh đốt, đốt cho nhanh, đốt từng đống nhỏ, có người canh. Gió đổi chiều. Lửa chạy vô rừng. Con tôi chạy ngược vô lấy cái máy bơm nước của tổ, cái máy bơm là tài sản lâm trường, mất thì trừ lương cả tổ. Nó không ra được.
Trâm trượt dần xuống theo khung cửa, ngồi bệt dưới sàn. Chị không khóc. Chị chỉ ngồi đó, ôm cái ca men vào ngực.
– Sau đó ông Khiêm gọi ba người trong tổ lại. Ổng nói đốt trái lệnh thì cả tổ đi tù, cả tổ mất việc. Thằng Lâm chết rồi, không ai làm gì được nó nữa. Ổng viết biên bản. Ba người ký. Ông Tư nói ổng ký vì ổng có bốn đứa con. – Bà Ngự ngừng lại. – Ông Tư mất ba tuần sau đó. Trước khi mất ổng nói với tôi, cái ca của thằng Lâm, ông Khiêm nhặt được ở chỗ cái lán, lúc dập lửa xong. Ông Khiêm giữ.
– Bác tìm ông Khiêm, – Thiều nói.
– Tôi không biết tìm ở đâu. Ba mươi năm rồi. Rồi đứa cháu bên chồng tôi chỉ cho tôi coi một trang quảng cáo trên mạng. Khu nghỉ dưỡng đồi Sương. Chủ là kỹ sư lâm nghiệp Bàng Văn Khiêm, từng công tác tại lâm trường Tân Lập, ba mươi năm gắn bó với rừng, tự tay trồng bốn mươi héc ta thông. – Bà đọc thuộc lòng, giọng không có chút cảm xúc nào. – Ba mươi năm gắn bó với rừng.
– Bác đặt phòng.
– Tôi đặt phòng. Tôi không biết tôi lên đây làm gì. Tôi chỉ muốn nhìn mặt ổng. Muốn ổng nhìn mặt tôi. Rồi tôi xuống xe, tôi thấy cái ca. Trong tay ổng. Cái bông sen. Cái miệng sứt. Tôi biết nó liền, cô ơi. Ba mươi năm mà tôi biết nó liền.
Bà ngừng lại. Hai bàn tay bà, lần đầu tiên, run lên trên đùi.
– Tối đó, nghe ổng nói "cháy rừng cũng không mất", tôi làm rớt cái ly. Nếm xong, tôi đứng dưới hiên chờ ổng. Tôi nói với ổng: tôi là mẹ thằng Lâm. Tôi nói được có vậy. Ổng đứng như trời trồng. Rồi ổng nói: chín rưỡi chị lên nhà tôi, đi lối sau, tôi mở đèn cửa sau.
Thiều nhớ cái động tác ông Khiêm đưa tay vuốt mặt, từ trán xuống cằm. Chị nhớ câu Tân kể: ảnh nói còn một người khách nữa, chút nữa lên. Chị nhớ cái tách đầy để sẵn.
– Tôi đi lối sau. Tới nơi còn nghe tiếng anh Tân trong nhà, tôi đứng chờ ngoài cửa sau, dưới cái đèn nhỏ ổng mở sẵn, tới khi anh Tân về. Tôi gặp ổng trong nhà. Ổng pha sẵn cho tôi một tách cà phê. Tôi không uống. Ổng biết tôi không uống, mà ổng vẫn pha, như người không biết làm gì khác với hai bàn tay. Ổng nói với tôi… – bà nhắm mắt. – Ổng nói đúng như ông Tư kể. Ổng không chối một chữ. Ổng nói ổng trồng bốn chục héc ta thông là để trả. Ổng nói mười bốn tháng Ba năm nào ổng cũng lên mỏm đá thắp nhang. Ổng nói ổng định bán đồi, vì ở đây ổng thấy rừng là ổng thấy thằng Lâm, ổng mệt rồi. Mà tối nay ổng không bán nữa.
– Bác đòi ông nói ra.
– Tôi đòi ổng nói ra. Nói với con gái ổng, với lâm trường, với ai cũng được. Sửa cái biên bản. Trả cho con tôi cái tên. Ổng nói để ổng nghĩ, mai ổng trả lời. Tôi nói ba mươi năm chưa đủ nghĩ sao. Ổng đứng dậy, nói chị về đi, rồi mở cửa trước, cầm điện thoại rọi đèn ra hiên, như tiễn khách. Tôi đi theo ra. Ra tới hiên tôi còn la lên. Tôi nói nó mới mười chín tuổi.
Bà mở mắt.
– Rồi tôi đi về lối sau. Tôi về tới căn số năm thì cúp điện. Tôi không biết ổng ngã. Sáng ra thấy ổng nằm đó, tôi biết người ta sẽ nghi tôi, vì cả cái đồi này chỉ có tôi là có lý do. Nên tôi nói ổng mất lúc nửa đêm. Tôi sai. Tôi xin lỗi con Trâm. Tôi không đẩy ổng.
Bà nói câu cuối thật rõ, nhìn thẳng vào Thiều.
Thiều nhìn lại bà. Chị nghe trong đầu mình giọng Kha tối hôm kia: rồi một lúc sau thì cúp điện. Em nhìn xuống thì thấy một đốm đèn nhỏ đi xuống theo lối mòn.
– Bác, – chị nói. – Bác về tới căn số năm thì cúp điện?
– Ừ.
– Cậu Kha ngồi trên mỏm Đá Bằng. Cậu ấy thấy cái đốm đèn nhỏ của bác đi xuống lối mòn sau khi cúp điện. Không phải trước.
Bà Ngự không trả lời. Ngọn nến cháy đứng. Dưới sàn, Trâm ngẩng đầu lên.
Rồi từ ngoài hiên vọng vào tiếng bước chân ai đó chạy lên những bậc đá cuối cùng, thở hổn hển, và giọng Kha, run run:
– Chị Thiều! Chị Thiều có trên đó không? Em… em còn một chuyện chưa nói.
— Hết chương 15 —

🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe