AI Truyện
Cái ca men sứt miệng trên đồi Sương

🔍 Trinh thám

Út Lâm

Cái ca men sứt miệng trên đồi Sương · Chương 14/20 · Sáng tác: AI Truyện

📖 9 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 14: Út Lâm

Thiều không ngủ được. Chị ngồi trên cái ghế sát cửa, cái ca men đặt trên đùi, cho tới khi ngọn nến dưới khe cửa phòng khách số hai tắt, lúc gần một giờ sáng. Chị ngồi tiếp, nghe mưa, nghe tiếng gỗ co rút trong cái lạnh của đêm trên núi. Chị nghĩ chị chỉ nhắm mắt một chút.

Khi chị mở mắt ra, trời đã xám.

Năm giờ hai mươi. Cửa phòng khách số hai mở toang.

Chị đứng bật dậy, cái ca suýt rơi xuống sàn. Chị chạy sang. Phòng trống. Giường đã được gấp chăn vuông vức như giường bệnh viện, gối đặt ngay ngắn ở đầu. Cuốn sách nằm trên bàn, cặp kính để trên gáy. Cái áo gió màu cà phê sữa không còn trên móc. Đôi dép nhựa quai hậu không còn ngoài sảnh.

Bà Sáu đang nhóm bếp. Thấy Thiều chạy vào, bà ngẩng lên.

– Bà Ngự hả? Bà đi lên nhà ông Khiêm rồi. Hồi năm giờ. Tui thấy bà cầm đèn đi lên dốc. Tui hỏi, bà nói bà lên ngồi với ổng một chút. – Bà Sáu nhìn mặt Thiều. – Có chuyện gì hả cô?

Thiều không trả lời ngay. Chị đặt cái ca men lên bàn bếp, cạnh cái thớt.

– Chị Sáu. Chị ngồi xuống đây với em một chút. Chị coi cái này.

Chị lật cái ca, nghiêng nó dưới ánh đèn bếp. Bà Sáu đeo kính lão vào, cúi xuống nhìn.

– Út… Lâm. Chín bốn. – Bà ngẩng lên. – Cái gì đây?

– Chị có bao giờ nghe ông Khiêm nhắc tới ai tên Lâm không?

Bà Sáu im lặng. Mặt bà dần dần đổi sắc.

– Có, – bà nói, giọng thấp. – Một lần. Tết năm kia, ổng uống rượu với mấy ông khách, ổng say. Khuya tui dọn bàn, ổng ngồi một mình ngoài hiên, ổng nói "Lâm ơi". Nói hai ba lần. Tui tưởng ổng gọi ai, tui dạ. Ổng nhìn tui như không biết tui là ai. Sáng ra ổng không nhớ gì.

Có tiếng chân trên cầu thang. Trâm đi xuống, tóc rối, áo len khoác vội.

– Chị Thiều? Có chuyện gì vậy?

Thiều kể. Lần này chị kể hết, không chừa gì. Kể cuộc nói chuyện với bà Ngự tối qua. Năm chín lăm. Tai nạn lao động. Cháy. Kể cái ly nước rơi khi ông Khiêm nói cháy rừng cũng không mất. Kể túi quýt rơi trên bậc thềm. Kể câu bà Ngự nói với thằng Bi hôm qua: có một năm bà mất một thứ, từ đó uống cà phê thấy đắng quá. Rồi chị đưa cái ca men cho Trâm, lật ngược nó lên.

Trâm cầm cái ca rất lâu. Ngón tay cái chị miết lên mấy nét khắc ở đáy.

– Ba tôi nói cái ca này là của ba, từ hồi lâm trường, – chị nói. – Ba tôi nói vậy cả đời. Hồi nhỏ tôi đòi lấy uống sữa, ba la tôi, lần duy nhất ba la tôi vì đồ đạc.

– Lâm trường đó tên gì em?

– Lâm trường Tân Lập. Ở phía bên kia núi, giờ thành công ty lâm nghiệp gì đó rồi. Ba làm kỹ sư ở đó từ hồi ra trường tới năm chín lăm. Rồi ba nghỉ. – Trâm ngước lên. – Ba nghỉ sau một vụ cháy rừng. Ba không bao giờ kể. Mẹ tôi kể, mẹ nói hồi đó ba về nhà, ba không nói chuyện với ai cả tháng.

– Ông có hay đi đâu một mình vào một ngày nào đó trong năm không?

Trâm nhìn chị, như ngạc nhiên vì sao chị hỏi đúng câu đó.

– Có. Mười bốn tháng Ba. Năm nào cũng vậy, từ hồi tôi còn nhỏ, tới mười bốn tháng Ba là ba đi lên mỏm Đá Bằng từ sáng sớm, mang theo nhang với một bình trà. Ba đi một mình, không cho ai theo. Ba ngồi trên đó tới trưa. Tôi hỏi ba thắp nhang cho ai. Ba nói thắp cho một người ba nợ.

– Trên mỏm đá có cái lư hương bằng đá phải không em? Cậu Kha có kể.

– Ba tôi đục đó. Đục từ một hòn đá suối.

– Cái ca đó, – bà Sáu nói, giọng như người nói mớ, – mười bốn năm tui chưa được rửa lần nào. Ổng không cho. Chén bát gì tui rửa hết, riêng cái ca thì ổng tự rửa, tự úp lên giá. Có lần tui lỡ tay cầm lên lau, ổng giật lại, rồi ổng xin lỗi tui, nói đồ của người ta gửi, phải giữ cho kỹ. Tui tưởng ổng nói chơi.

Không ai nói gì nữa. Bà Sáu ngồi trên cái ghế đẩu, hai tay úp lên miệng. Trong bếp, nồi nước trên lửa bắt đầu reo.

Thiều đứng dậy, đi tới cửa sổ. Ngoài kia, trời đang sáng dần, xám bạc. Chị nhìn lên con dốc bậc đá, lên căn nhà gỗ nhỏ trên sườn đồi phía bắc. Cửa sổ căn nhà có ánh đèn vàng. Ánh nến.

Chị xếp lại từng cái bát trong đầu. Lần này chị không cần nếm nữa. Mọi thứ đã nguội, và tật đã lòi ra hết.

Một người mẹ ở Đà Nẵng có một đứa con trai, gọi là Út Lâm. Năm chín tư nó đi làm ở một lâm trường trên Tây Nguyên. Chắc mẹ nó mua cho nó một cái ca men, chắc chính tay mẹ nó khắc tên nó dưới đáy cho khỏi bị ai lấy mất. Năm chín lăm, ở lâm trường ấy có một vụ cháy rừng, và nó chết trong vụ cháy ấy. Lúc nó chết, nó mới mười chín tuổi.

Kỹ sư phụ trách ở lâm trường ấy là một người tên Bàng Văn Khiêm. Sau vụ cháy, ông nghỉ việc. Ông trồng bốn chục héc ta thông, trồng từng cây một, nói trồng cho đủ thì thôi. Ông sợ lửa tới mức thấy người ta đốt lá khô là chạy ra tạt nước. Mỗi năm, vào một ngày tháng Ba, ông lên một mỏm đá thắp nhang cho "một người ba nợ". Ông giữ cái ca men của đứa con trai người khác suốt ba mươi năm, uống cà phê bằng nó mỗi đêm. Ông nói với khách: cháy rừng cũng không mất. Và đêm ông chết, ông nói với người sắp mua đồi của mình: tôi đốt rừng một lần rồi, tôi không đốt lần nữa.

Ba mươi năm sau, người mẹ ấy đi xe khách lên đồi Sương. Trên bậc thềm, bà thấy cái ca men của con mình trong tay một người lạ.

Và sáng hôm sau, chính người mẹ ấy quỳ xuống bên cạnh người lạ nằm trên bậc đá, đặt hai ngón tay lên cổ ông, để bàn tay mình nằm yên trên vai ông lâu hơn cần thiết một chút. Rồi bà ngẩng lên nhìn trời, nhìn mưa, và nói một cái giờ mà bà biết, như bà đã nói tối qua, nên nói thế nào cho người ta tin.

– Chị Thiều. – Giọng Trâm vang lên sau lưng chị, rất nhỏ. – Bà Ngự là…

– Chị nghĩ vậy.

– Vậy là bà ấy lên nhà ba tôi đêm đó. Bà ấy là người khách thứ hai. Bà ấy là người đàn bà trên hiên.

– Chị nghĩ vậy.

– Vậy là bà ấy…

Trâm không nói được hết câu. Chị đứng giữa bếp, tay vẫn cầm cái ca men, người run lên. Bà Sáu đứng dậy, ôm lấy chị từ phía sau, như ôm một đứa con nít.

Thiều quay lại.

– Chị chưa biết đêm đó chuyện gì xảy ra trên cái hiên ấy. Không ai biết, trừ bà Ngự. – Chị cầm lấy cái áo khoác vắt trên lưng ghế. – Bà ấy xin chị một đêm. Bà ấy nói sáng nay bà ấy nói hết. Bà ấy đang ở trên đó.

– Tôi đi với chị.

– Trâm…

– Ba tôi nằm trên đó. – Trâm buông bà Sáu ra, lau mặt bằng vạt áo. – Tôi đi với chị.

Thiều nhìn chị một giây. Rồi gật đầu.

– Chị Sáu, chị ở dưới này với thằng Bi. Đừng để nó chạy lên. Ai hỏi thì chị nói tụi em lên coi nhà.

Hai người đi ra cửa sau. Trời đã đủ sáng để không cần đèn. Mưa đã tạnh, nhưng sương dày như sữa, đặc quánh giữa những hàng cà phê, đọng thành giọt trên tóc, trên mi mắt. Họ đi qua mái vòm giàn phơi. Cây đèn bão vẫn treo trên cái đinh ở khung cửa sau, chụp thuỷ tinh ám khói.

Tới chân dốc, Trâm dừng lại. Chị đứng nhìn lên con đường bậc đá khuất trong sương, cái ca men vẫn trong tay.

– Chị Thiều. Nếu bà ấy đẩy ba tôi, – chị nói, không quay lại, – thì tôi phải làm gì?

Thiều đứng cạnh chị. Chị nghĩ tới những câu người ta hay nói trong phim, trên báo. Không câu nào đúng với một người đứng ở chân con dốc mà ba mình đã nằm chết trên đó.

– Em không phải làm gì hết, – Thiều nói. – Không phải tha thứ, không phải trả thù. Có công an. Em chỉ cần nghe cho hết, rồi để người ta làm việc của người ta.

– Nếu tôi không muốn nghe?

– Thì em đứng ngoài hiên. Chị vào một mình.

Trâm im lặng một lúc. Rồi chị lắc đầu, bước lên bậc đầu tiên.

– Ba tôi giấu tôi ba mươi năm. Tôi nghe.

Họ leo lên tám mươi bậc đá. Không ai nói gì. Thiều đếm bậc, lần này chị đếm thật, vì chị cần một thứ gì đó để giữ cho đầu óc mình đứng yên. Sáu mươi. Bảy mươi. Họ vòng qua tảng đá lớn. Đoạn bậc đá ngay dưới hiên ướt đẫm, rêu xanh bóng.

Cửa nhà gỗ khép hờ. Từ bên trong, ánh nến hắt ra một vệt vàng trên sàn hiên.

Thiều đẩy cửa.

Gian ngoài vẫn như cũ: cái bàn, hai cái bát úp trên hai cái tách, cái gạt tàn, hũ đường. Cửa buồng trong mở. Trên cái bàn nhỏ đầu giường, một ngọn nến cắm trên cái đĩa. Tấm khăn trải bàn vẫn phủ kín người nằm trên giường.

Bà Ngự ngồi trên cái ghế đẩu cạnh giường, lưng thẳng, hai tay đặt chồng lên nhau trên đùi. Bà mặc cái áo gió màu cà phê sữa. Tóc bà còn ướt sương. Bà không quay lại.

– Cô tới rồi, – bà nói. Rồi bà thấy Trâm đứng sau lưng Thiều, và lần đầu tiên từ hôm tới, Thiều thấy bà giật mình. – Con Trâm cũng tới.

Trâm đứng ở ngưỡng cửa, hai tay buông thõng. Chị không bước vào.

Bà Ngự nhìn chị một lúc lâu. Rồi bà nhìn xuống cái ca men trong tay Trâm. Môi bà run lên.

– Ngồi xuống đi, – bà nói, giọng khàn. – Ngồi xuống đi hai đứa. Tôi kể.

— Hết chương 14 —

Mục lục Cái ca men sứt miệng trên đồi Sương

  1. 1Mười hai khúc quanh9 phút
  2. 2Sáu cái bát sứ11 phút đọc
  3. 3Đêm không ai ngủ10 phút đọc
  4. 4Hai cái tách sứ10 phút đọc
  5. 5Đất sét tím9 phút đọc
  6. 6Cái đèn trắng nằm yên10 phút đọc
  7. 7Ai xách cây đèn bão9 phút đọc
  8. 8Ba muỗng đường10 phút đọc
  9. 9Ba miếng bông gòn10 phút đọc
  10. 10Năm chữ trong gió10 phút đọc
  11. 11Nếm lại khi nguội9 phút đọc
  12. 12Dấu dép dưới mái hiên9 phút đọc
  13. 13Ấm trà nguội dần9 phút đọc
  14. 14Út Lâm9 phút đọc
  15. 15Người mẹ ở lâm trường Tân Lập9 phút đọc
  16. 16Hai phút im lặng10 phút đọc
  17. 17Hai chén trà trên mỏm đá9 phút đọc
  18. 18Những người từ phía đông9 phút đọc
  19. 19Phong bì mã số10 phút đọc
  20. 20Đi xuống mười hai khúc quanh11 phút đọc

Về truyện này

Cái ca men sứt miệng trên đồi Sương là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Đức của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →