AI Truyện
Cái ca men sứt miệng trên đồi Sương

🔍 Trinh thám

Hai cái tách sứ

Cái ca men sứt miệng trên đồi Sương · Chương 4/20 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 4: Hai cái tách sứ

– Ba!

Trâm lao lên. A Toan quay lại, dang tay chặn ngang người chị, hai cánh tay cứng như thanh gỗ.

– Chị Trâm. Chị Trâm. Đừng.

– Buông ra! Ba tôi…

– Ổng lạnh rồi chị. Em sờ rồi. Ổng lạnh lắm rồi.

Trâm khuỵu xuống bậc đá. Chị không khóc thành tiếng. Chị ngồi đó, hai tay ôm lấy đầu gối, người lắc lư tới lui như cái võng. Mưa vẫn rơi đều trên vai chị, trên lưng người nằm phía trên.

Thiều đứng dưới một bậc, tay vịn vào tảng đá lớn. Trong đầu chị có một tiếng nói rất bình thản, cái tiếng nói vẫn đọc to các bước khi chị nếm cà phê: đừng vội. Ngửi trước. Nhìn trước. Chưa nếm.

– Toan, – chị nói. – Em xuống gọi bác Ngự lên giùm cô. Bác làm y tá. Mọi người khác ở dưới, đừng ai lên đông. Cô ở đây với Trâm.

A Toan nhìn chị một giây, gật đầu, rồi chạy xuống, đôi ủng nện bình bịch trên bậc đá.

Thiều không bước lại gần. Chị đứng ở chỗ của mình, nhìn.

Ông Khiêm nằm sấp, đầu chúc xuống phía dưới dốc, cách hiên nhà chừng mười bậc. Ông mặc cái áo len cổ lọ màu xám tối qua, quần kaki, chân đi một đôi dép nhựa đi trong nhà, một chiếc còn trên chân, chiếc kia rơi lại ở bậc thứ hai ngay dưới hiên. Ông không mặc áo mưa. Bàn tay phải duỗi ra phía trước, các ngón hơi co lại, úp lên một cái điện thoại màu đen. Ở thái dương bên trái có một vệt thâm tím, mưa đã rửa sạch gần hết những gì còn lại.

Chị nhìn quanh. Không có cây đèn bão nào. Không có áo mưa. Không có đèn pin.

Chị lấy điện thoại ra, chụp. Chụp từ chỗ chị đứng, rồi bước lên một bậc, sát mép, không đặt chân vào giữa, chụp tiếp. Chụp bàn tay, chụp chiếc dép rơi, chụp mấy bậc đá phía trên dẫn lên hiên, chụp cái hiên. Tay chị run, chị chụp lại hai lần mỗi tấm. Mười chín năm đi chấm cà phê, chị có thói quen chụp từng bát nếm trước khi ghi điểm, để lỡ sau này ai thắc mắc thì còn có cái mà coi lại. Chưa bao giờ chị nghĩ có lúc mình chụp thứ này.

Trâm ngước lên nhìn chị.

– Chị làm gì vậy?

– Chị chụp lại. Lúc đường thông, công an lên, người ta sẽ hỏi mọi thứ nằm thế nào. Chị sợ mình lỡ dời đi rồi không ai nhớ.

Trâm nhìn chị lâu. Rồi chị gật đầu, gục mặt vào hai đầu gối.

Mười phút sau bà Ngự lên. Bà đi chậm, một tay vịn vách đá, một tay giữ vạt áo gió, theo sau là A Toan, bà Sáu, Vũ và Tân. Thiều đã dặn đừng lên đông, nhưng chị hiểu. Không ai ngồi yên ở dưới được.

Bà Sáu vừa vòng qua tảng đá đã bật khóc thành tiếng, một tiếng khóc của người miền biển, kể lể, gọi tên. Vũ đứng chết lặng. Tân lùi lại một bước, lấy tay che miệng.

Bà Ngự đi thẳng tới. Bà quỳ xuống bậc đá ngay cạnh ông Khiêm, không nói gì. Hai ngón tay bà đặt lên cổ ông, ở chỗ dưới góc hàm. Rồi bà nâng nhẹ cánh tay ông lên, thử gập khuỷu, gập cổ tay. Bà sờ hàm, sờ gáy, vuốt mắt cho ông. Động tác bà nhanh, gọn, không thừa, như bà đã làm cả ngàn lần ở một nơi nào đó có đèn huỳnh quang và tiếng máy kêu bíp bíp. Rồi bà để tay mình nằm yên trên vai ông một lúc. Lâu hơn cần thiết một chút.

– Mất rồi, – bà nói. Giọng bà không run. – Mất mấy tiếng rồi. Cứng hàm, cứng cả tay chân. Người lạnh hẳn.

– Mấy tiếng là mấy tiếng bác? – Thiều hỏi.

Bà Ngự nhìn lên trời một lúc, nhìn mưa.

– Trời lạnh vầy thì khó nói. Tôi đoán… khoảng mười một giờ tới một giờ khuya. Không sớm hơn mấy.

– Mười giờ mười lăm tui còn thấy ổng xách đèn xuống nhà phơi mà, – bà Sáu nói trong tiếng nấc. – Rồi ổng đi lên lại. Mưa trơn. Trời ơi, tui đã nói với ổng bao nhiêu lần, cái dốc này phải làm tay vịn…

– Va đầu vào cạnh bậc, – bà Ngự nói, chỉ vào vệt thâm. – Ngã kiểu này, người già, trời mưa, thì chừng đó là đủ.

Không ai nói gì thêm. Mưa rơi lộp độp trên lá le.

Vũ là người lên tiếng trước:

– Không để ổng nằm đây được. Mưa nữa. Rồi trên kia đất cũng đang chảy.

Anh chỉ lên sườn đồi phía trên mái nhà gỗ, nơi những dòng nước đục ngầu đang len qua gốc thông, chảy tràn xuống thành từng vệt.

Thiều biết người ta dặn gì trong những trường hợp này. Không di chuyển. Giữ nguyên hiện trường. Chờ công an. Nhưng chị cũng biết con đường duy nhất xuống núi vừa mới sập lúc hai giờ sáng, và chị không biết bao giờ nó thông lại. Chị nhìn người đàn ông nằm trên bậc đá, nhớ cái giọng ông tối qua: ca của tôi, nước của tôi.

– Tôi chụp hết rồi, – chị nói. – Mọi người thống nhất với nhau một chuyện: mình dời ông vào nhà vì trời mưa và đất lở, mình ghi lại giờ dời, ai khiêng, đặt ở đâu. Sau này công an hỏi, mình nói đúng như vậy. Bác Ngự thấy được không?

Bà Ngự gật đầu.

– Được. Mà khiêng nhẹ tay, giữ đầu ổng thẳng.

Trước khi khiêng, A Toan cúi xuống nhặt cái điện thoại dưới tay ông Khiêm lên, đưa cho Trâm.

– Hồi nãy em có lật lên coi, – anh nói, như thú tội. – Tắt ngúm. Hết pin rồi chị.

Trâm cầm cái điện thoại, nhìn màn hình đen, rồi đưa cho Thiều như không biết làm gì với nó. Thiều bỏ nó vào một cái túi ni lông sạch bà Sáu vẫn nhét sẵn trong túi áo, buộc lại, cất vào túi áo khoác.

Đồng hồ trên điện thoại chị chỉ sáu giờ bốn mươi. A Toan với Vũ tháo một tấm cửa gỗ của nhà kho phía sau làm băng ca. Họ khiêng ông Khiêm lên mười bậc đá, qua hiên, vào căn buồng ngủ phía trong, đặt lên giường. Bà Ngự kéo tấm chăn của ông phủ lên tới cổ, rồi ngập ngừng, kéo lên hết.

Trâm đi vào sau cùng, đứng ở chân giường. Chị nhờ Thiều lấy giùm cái khăn trải bàn ngoài kia.

Căn nhà gỗ của ông Khiêm chỉ có hai gian: một buồng ngủ nhỏ phía trong và một gian ngoài vừa làm phòng khách vừa làm bếp. Đồ đạc ít, cũ, gọn như nhà người lính. Một cái bàn gỗ, bốn cái ghế đẩu. Một cái kệ gắn tường đựng sách và cái radio pin. Cái chạn bát, cái bếp ga mini, lu nước. Trên tường một tấm lịch bloc, tờ trên cùng là ngày hôm qua. Sau cánh cửa ra vào treo một bộ áo mưa bộ đội màu xanh lá, khô cong.

Thiều đứng ở ngưỡng cửa gian ngoài. Chị không lấy khăn trải bàn. Chị đang nhìn cái bàn.

Trên bàn có hai cái tách sứ trắng viền xanh, loại tách khách, đặt cách nhau một gang tay. Một cái đã cạn, dưới đáy còn một lớp cặn nâu sánh lại, dính, bóng lên như mật. Cái kia đầy tới miệng. Cà phê bên trong đã nguội ngắt, mặt nước kết một lớp váng mờ như da. Không ai đụng vào nó.

Giữa hai cái tách là một hũ đường thuỷ tinh mở nắp, cái muỗng cắm trong hũ. Bên cạnh là hai cái phin nhôm đã dùng, bã cà phê còn nằm trong phin. Ở góc bàn có một cái gạt tàn bằng đất nung, trong đó có đúng một mẩu thuốc lá, đầu lọc màu trắng.

Thiều bước lại gần. Chị cúi xuống, không chạm vào, ngửi cái gạt tàn trước. Bạc hà. Cái mùi the mát chị đã ngửi thấy trên áo một người cả buổi tối qua.

Rồi chị ngửi cái tách cạn. Cà phê, và đường. Rất nhiều đường.

Rồi chị ngửi cái tách đầy. Mùi cà phê nguội, chua chua, đã bắt đầu ôi. Chị đưa mũi gần hơn, gần cái quai tách. Có một thứ gì đó khác, rất mảnh, the the, mát lạnh. Không phải cà phê. Chị không chắc nó là gì. Bạc hà ư? Hay chỉ là mùi trong gian nhà ám sang? Chị nhắm mắt lại, hít thêm một lần. Mũi chị tối qua đã ngửi quá nhiều thứ, cà phê, khói củi, trà gừng, mưa. Chị không dám chắc.

Chị đứng thẳng lên, nhìn quanh.

Ở chỗ cái lu nước, trên cái giá phơi bát bằng tre, có một cái ca men trắng úp ngược. Cái ca có bông sen đỏ phai, miệng sứt một vết nhỏ bằng hạt đậu.

Thiều bước tới, lật nhẹ cái ca lên bằng hai đầu ngón tay. Nó khô. Khô hoàn toàn, cả bên trong lẫn đáy, không một giọt nước đọng, không một vệt cà phê.

Chị nhìn sang cái radio trên kệ. Nút vặn đã tắt. Chị nhìn ra cửa: công tắc đèn hiên bật lên, nhưng đèn không sáng vì cả đồi mất điện.

– Chị Thiều. – Trâm đứng ở cửa buồng trong, giọng khàn. – Cái khăn.

– Ờ. Chị xin lỗi. – Thiều cầm tấm khăn trải bàn đưa cho Trâm. Rồi chị nói, nhỏ: – Trâm, chị nhờ em một chuyện. Mấy thứ trên bàn này, em để y nguyên được không? Chị lấy hai cái bát úp lên hai cái tách cho bụi khỏi rơi vào. Rồi mình khoá cửa lại.

Trâm nhìn cái bàn. Nhìn hai cái tách. Chị không hỏi vì sao.

– Ba con không hút thuốc, – chị nói, mắt dừng ở cái gạt tàn. – Cái gạt tàn đó là để khách.

Rồi chị quay vào buồng.

Thiều lấy hai cái bát ăn cơm trong chạn, úp nhẹ lên hai cái tách. Chị chụp ảnh cái bàn từ bốn phía. Chụp cái ca men úp trên giá. Chụp cái radio. Chụp công tắc đèn. Lúc chị đang chụp cái gạt tàn thì có bóng người đứng chắn ngoài cửa.

Tân. Anh ta đã lên tới hiên, áo sơ mi trắng ướt dính vào ngực. Mắt anh ta nhìn cái bàn, nhìn hai cái bát úp, nhìn cái gạt tàn, rồi mới nhìn tới Thiều.

Mặt anh ta trắng ra. Không phải trắng như người vừa thấy người chết. Thiều biết cái trắng ấy, chị đã thấy nó trên mặt những người bán cà phê khi chị lật bao hàng của họ lên và thấy lớp hạt mốc nằm dưới đáy.

– Anh Tân, – chị hỏi, giọng bình thường như hỏi giờ. – Tối qua anh có lên đây không?

– Không. – Anh ta trả lời ngay, nhanh quá. – Tôi ở trong phòng từ chín giờ. Ngủ sớm. Rồi cúp điện tôi mới chạy ra.

– Dạ.

Chị không nói gì thêm. Chị chỉ nhìn cái tách cạn dưới cái bát úp, cái tách mà dưới đáy còn đóng một lớp cặn sánh lại vì ba muỗng đường.

— Hết chương 4 —

Mục lục Cái ca men sứt miệng trên đồi Sương

  1. 1Mười hai khúc quanh12 phút đọc
  2. 2Sáu cái bát sứ11 phút đọc
  3. 3Đêm không ai ngủ10 phút đọc
  4. 4Hai cái tách sứ10 phút đọc
  5. 5Đất sét tím9 phút đọc
  6. 6Cái đèn trắng nằm yên10 phút đọc
  7. 7Ai xách cây đèn bão9 phút đọc
  8. 8Ba muỗng đường10 phút đọc
  9. 9Ba miếng bông gòn10 phút đọc
  10. 10Năm chữ trong gió10 phút đọc
  11. 11Nếm lại khi nguội9 phút đọc
  12. 12Dấu dép dưới mái hiên9 phút đọc
  13. 13Ấm trà nguội dần9 phút đọc
  14. 14Út Lâm9 phút đọc
  15. 15Người mẹ ở lâm trường Tân Lập9 phút đọc
  16. 16Hai phút im lặng10 phút đọc
  17. 17Hai chén trà trên mỏm đá9 phút đọc
  18. 18Những người từ phía đông9 phút đọc
  19. 19Phong bì mã số10 phút đọc
  20. 20Đi xuống mười hai khúc quanh11 phút đọc

Về truyện này

Cái ca men sứt miệng trên đồi Sương là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Đức của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →