Chương 1: Ba nốt còi tre
Ba nốt còi vang lên trong lồng cầu thang tối om: một nốt trầm, một nốt bổng, rồi lại một nốt trầm, kéo dài cho tới khi người thổi hết hơi.
– Chào mấy bạn, tụi mình là Nghe Kể Rồi Đi Coi. – Lộc hạ cái còi tre xuống, nhe răng vào ống kính. – Đêm nay rằm tháng Bảy, tụi mình đang đứng ở chiếu nghỉ tầng hai một chung cư cũ mà người trong xóm kể rằng cứ đêm rằm là nghe có ai đếm bậc. Một, hai, ba, đếm tới bốn mươi chín thì dừng. Ai đứng ở tầng bốn mà nghe tới bốn mươi chín…
Anh bỏ lửng, liếc sang Nghi. Nghi lắc đầu, ra hiệu tay: cắt.
– Gì nữa bà?
– Câu đó không có trong kịch bản. Không ai nói nghe tới bốn mươi chín thì sao hết. Ông tự chế.
– Thì để người ta tò mò.
– Tò mò thì người ta bình luận hỏi, rồi mình trả lời sao? – Nghi gập cuốn sổ tay lại, nhét vô túi áo khoác. – Kênh mình tên là Nghe Kể Rồi Đi Coi. Đi coi rồi thì kể đúng cái mình coi.
Thạch Khải đứng sau máy quay, không nói gì, chỉ bấm dừng rồi bấm quay lại. Cậu cao lêu khêu, đeo kính cận, đeo cái tai nghe to như hai cái chén úp, trên vai lủng lẳng một máy thu âm nhỏ quấn băng keo đen ở chỗ nắp pin bị gãy. Mượn của phòng thí nghiệm khoa điện tử, Khải hay nói vậy, hư là mất học bổng, nên đừng có ai đụng.
Út Ngò thì đứng nép sát vách, ôm cái túi vải trước ngực. Trong túi có một bịch muối hột, một cây nhang chưa đốt, và một gói khoai lang nướng. Bịch muối là của nó. Khoai thì của dì Tư bán ở đầu hẻm, nhét thêm cho lúc chiều vì "tụi con đi đêm, ăn cho ấm bụng".
Lộc thổi lại ba nốt còi. Lần này anh không chế thêm.
Chung cư nằm trên một con đường nhỏ gần chợ cá cũ, xây từ trước năm bảy lăm, năm tầng, cầu thang chạy giữa hai dãy căn hộ. Tường vôi vàng tróc từng mảng như vỏ bánh tráng nướng. Đèn hành lang chỉ còn một bóng ở tầng hai là sáng, mấy tầng trên ai muốn đi thì tự bật đèn điện thoại. Gió từ sông thổi lên mang theo mùi bùn với mùi giấy tiền vàng bạc người ta đốt từ chạng vạng. Dưới sân, mấy cái thau nhôm còn tro đỏ.
Họ chờ từ mười một giờ. Khải đặt máy thu âm ở chiếu nghỉ tầng ba, đặt thêm một cái điện thoại cũ ghi hình liên tục ở tầng bốn. Út Ngò rải một nhúm muối ở bậc đầu tiên, bị Khải nhìn, nó nói tỉnh bơ:
– Muối của tui, tui rải. Anh đo của anh đi.
Mười một giờ bốn mươi, có tiếng dép nhựa.
Không phải tiếng chân của ai trong nhóm. Tiếng dép từ phía trên, chậm, lẹp xẹp, kèm theo một giọng khàn khàn đọc số:
– Ba mươi mốt… ba mươi hai… ba mươi ba…
Út Ngò nắm chặt tay áo Nghi tới mức Nghi nghe móng tay nó qua lớp vải. Lộc đưa ngón trỏ lên môi, mặt đổi hẳn, không còn cái kiểu dẫn chương trình nhe răng. Khải nghiêng đầu nghe, mắt dán vô vạch sóng âm trên màn hình nhỏ, môi mấp máy như đang đếm theo.
– Bốn mươi… bốn mươi mốt…
Giọng đi xuống, mỗi lúc một gần. Đã qua khỏi tầng ba.
– Bốn mươi tám. Bốn mươi chín.
Rồi im.
Nghi nghe tim mình đập ở hai bên thái dương. Không ai bật đèn. Trong bóng tối, chỉ có cái chấm đỏ trên máy quay của Khải là còn thấy được.
– Mấy đứa đứng chi ở đó?
Lần này giọng nói ngay trên đầu họ, chỉ cách mấy bậc thang, và một luồng đèn pin rọi thẳng xuống. Út Ngò hét một tiếng ngắn rồi tự bịt miệng mình lại.
Người đứng trên bậc thang sát chiếu nghỉ là một ông cụ gầy đét, mặc áo thun ba lỗ, quần xà lỏn ca rô, tay cầm cây đèn pin đội đầu nhưng lại cầm ở tay chứ không đội. Ông thở hổn hển, mồ hôi chảy thành dòng trên ngực.
Ông tên Chín Rô, ở căn hộ tầng năm, tám mươi mốt tuổi. Ông mất ngủ từ hồi bà nhà ông đi, tức là mười năm rồi. Bác sĩ dặn đi bộ cho chân cứng, mà ban ngày ông ngại người ta nhìn ông già leo lên leo xuống như khùng, nên ông đợi khuya. Leo xuống một lượt, leo lên một lượt. Đếm to cho khỏi lạc số, vì ông hay quên mình đang ở tầng mấy.
– Bốn mươi chín bậc từ nhà tui xuống tới tầng hai. Tầng hai có đèn, khỏi đếm. – Ông chỉ cái bóng đèn tròn duy nhất còn sáng. – Mà sao đêm rằm? Bậy. Đêm nào tui cũng đi. Đêm rằm sáng trăng, người ta ra ban công cúng nhiều, nghe được nhiều thôi.
Khải đưa máy thu âm cho Nghi coi. Vạch sóng tiếng đếm khớp từng nhịp với tiếng dép.
Họ ngồi với ông Chín Rô tới gần một giờ sáng. Ông kể về bà nhà, về hồi chung cư còn có cái giếng nước chung ở sân, về đám con nít tầng ba bây giờ đã thành ông bà nội. Lộc mời ông nói một câu cho tập phim. Ông chỉnh lại cái áo ba lỗ, nói vô ống kính:
– Ma cái con khỉ. Tui chứ ai.
Út Ngò cười tới mức phải ngồi bệt xuống bậc thang. Lộc vỗ vai ông, xin phép thổi còi kết tập ngay tại chiếu nghỉ. Ông cụ nghe ba nốt còi xong, nhìn cái còi trong tay Lộc một hồi lâu.
– Còi tre hả? Ai làm cho mày vậy?
– Dạ, con có từ nhỏ. Chắc mua ở chợ.
– Chợ đâu mà có con cá khắc tay vầy. – Ông cụ nheo mắt. – Tiếng nó buồn quá. Như kêu ai về.
Lộc cười, nhét cái còi vô túi áo. Nghi để ý anh nhét kỹ, ấn cho nó lọt hẳn xuống đáy túi. Không phải lần đầu cô thấy anh làm vậy, nhưng lần đầu cô thấy nó lạ.
Cái còi dài cỡ ngón tay giữa, màu tre đã sậm như gỗ mun ở chỗ cầm, hai lỗ bấm nhỏ, ngay chỗ miệng thổi có khắc một con cá bằng mũi dao. Con cá chỉ có mấy nét: thân, đuôi, một chấm làm mắt. Hai năm trước, lúc ba đứa ngồi ở quán chè trước cổng trường bàn chuyện lập kênh, Lộc móc nó ra thổi chơi. Nghi nghe xong nói ngay: lấy làm tiếng mở đầu đi, nghe ớn lạnh. Từ đó, tập nào cũng mở bằng ba nốt ấy. Người xem quen tới mức có người bình luận "nghe tiếng còi là nổi da gà dù chưa coi gì".
Còn Lộc thì chưa bao giờ nói cái còi ở đâu ra. Hỏi thì anh bảo của ông bà già mua, hồi nhỏ ở Vũng Tàu.
Họ về tới hẻm trọ lúc gần hai giờ. Hẻm nằm sau dãy ký túc xá, đủ cho hai xe máy tránh nhau, hai bên là phòng trọ, tiệm photo, tiệm sửa điện thoại có thằng Phúc Còi cháu chủ tiệm ngủ lại canh đồ. Nhóm thuê chung căn nhà một trệt một lầu của bà Tám ở gần cuối hẻm: hai đứa con gái ở lầu, hai đứa con trai ở dưới, phòng khách thành chỗ dựng phim.
Đầu hẻm, cái xe khoai của dì Tư đã dọn, chỉ còn cái lò than tổ ong úp ngược và tấm bạt xanh phủ ngoài. Nhưng dì vẫn ngồi đó, trên cái ghế nhựa thấp, quàng cái khăn len xám ngang cổ dù trời Sài Gòn tháng Tám nóng hầm. Cái đồng hồ đàn ông dây đỏ bạc màu đeo ở cổ tay phải, mặt kính trầy tới mức chắc dì cũng chẳng coi giờ được.
– Dì Tư chưa ngủ hả dì? – Út Ngò dừng xe.
– Ngủ không được. – Dì ho mấy tiếng khan, quay mặt đi chỗ khác mà ho. – Tụi con đi coi ma về đó hả? Có ma không?
– Có ông già tập thể dục, dì ơi. – Út Ngò cười. – Ổng đếm to cho khỏi quên mình đang ở tầng mấy. Vui lắm.
Dì Tư cũng cười, cái cười ít răng. Dì nhìn qua vai Út Ngò, nhìn Lộc đang dắt xe vô hẻm, nhìn lâu một chút rồi mới cúi xuống phủi phủi tấm bạt.
– Về ngủ đi con. Mai dì nướng củ to cho.
Dì Tư bán khoai ở đầu hẻm từ sau Tết. Không ai biết dì ở đâu ra. Dì nói giọng miền Nam mà lơ lớ, chữ "rồi" của dì nghe như "rồ", chữ "không" có lúc bật ra thành một tiếng gì đó giữa "không" và "khôông". Út Ngò hỏi dì quê đâu, dì nói quê nhiều chỗ lắm, đi riết quên. Dì không lấy tiền của Út Ngò mấy lần, và lúc nào cũng gói dư cho thằng "con trai đẹp trai hay thổi còi" một củ.
Nghi không ngủ được. Cô ngồi ở phòng khách, mở máy tính ra xem lại đoạn quay. Khải đã nhập dữ liệu, đang đeo tai nghe dò từng đoạn âm thanh, mặt xanh lét vì ánh màn hình. Lộc nằm dài trên tấm phản gỗ, gác tay lên trán.
Lúc hai giờ bốn mươi, điện thoại của Nghi rung.
Thư điện tử gửi tới địa chỉ của kênh. Người gửi để tên "Người nghe ở bến đò". Địa chỉ là một dãy chữ số lộn xộn, tạo ra rõ ràng chỉ để gửi một lá thư. Không có lời chào.
"Tụi con đi coi ma thiệt hả. Thì đi coi cái này. Quốc lộ ven biển dưới chân đồi cát, đoạn có cây số ghi 17, mấy ông chạy xe tải đêm đều biết. Năm đó có đứa nhỏ ngồi trên cột cây số đếm xe, ai dừng lại thì nó hỏi chú có đi ngang Sài Gòn không. Lên xe rồi thì mất, trên bạt chỉ còn dấu tay ướt. Đi hỏi mấy ông sửa vỏ xe dưới chân dốc. Đi đi rồi biết."
Nghi đọc to lên. Khải bỏ một bên tai nghe ra.
– "Tụi con". – Khải nhắc lại. – Người lớn tuổi viết. Không dấu chấm hỏi, câu nào cũng như nói.
– Hay là ông Chín Rô. – Út Ngò từ trên cầu thang ló đầu xuống, tóc rối bù. Nó chưa ngủ.
– Ông Chín không biết cái kênh tên gì. – Nghi lắc đầu. – Mà gửi lúc hai giờ bốn mươi.
Lộc đã ngồi dậy từ lúc nào. Anh không đùa. Anh nhoài người qua vai Nghi, đọc lại lá thư, đọc lâu hơn cần thiết với năm câu chữ.
– Cột cây số mười bảy. Quốc lộ ven biển. – Anh nói nhỏ. – Ai mà rảnh vậy.
– Hè này mình tính đi đâu? – Nghi quay lại. – Còn gần hai tháng mới vô học. Hồi tháng Sáu ông nói muốn làm một loạt đi xa, một chặng một chuyện.
– Thì đi chỗ này trước. – Lộc đứng dậy, đi xuống bếp lấy nước. Anh đứng quay lưng lại cả ba người, uống một hơi hết ly. – Đi rồi biết, người ta nói vậy mà.
Khải nhìn theo lưng Lộc, nhíu mày, rồi cúi xuống đeo lại tai nghe.
Gần ba giờ, Nghi lên lầu. Phòng cô có cửa sổ nhìn xuống hẻm. Đèn đường vàng đục chiếu xuống cái xe khoai phủ bạt. Cái ghế nhựa thấp vẫn còn ở đó.
Dì Tư vẫn còn ngồi đó.
Dì không ngủ gục. Dì ngồi thẳng lưng, hai tay đặt trên đầu gối, mặt ngửa lên nhìn về phía cuối hẻm, nhìn đúng căn nhà của bà Tám. Ánh đèn hắt lên làm cái mặt kính đồng hồ trên cổ tay dì loé lên một chấm trắng.
Nghi đứng sau rèm cửa nhìn xuống. Cô không biết mình đứng bao lâu. Chỉ biết là tới lúc cô buông rèm ra để đi ngủ, dì Tư vẫn chưa dời mắt khỏi khung cửa sổ tầng dưới, phòng của Lộc.
— Hết chương 1 —
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe