AI Truyện
Ba nốt còi tre

🕯️ Truyện ma kinh dị

Đêm mười bốn

Ba nốt còi tre · Chương 17/20 · Sáng tác: AI Truyện

📖 9 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 17: Đêm mười bốn

Hai ngày, họ đi tìm một người đàn bà không muốn bị tìm.

Sáng mười hai, anh Tuất chở bốn đứa qua lại bên Cồn Lở ba chuyến. Họ đi dọc bờ lở, xuống tận khúc quanh, lội vào bãi lau. Lau mọc cao quá đầu, bông lau trắng xoá, lá sắc cứa rát cả tay. Dưới gốc lau, bùn ngập tới mắt cá, có chỗ tới bắp chân. Ở một chỗ đất cao giữa bãi, họ thấy một đám cỏ bị đè rạp thành hình người nằm, một vòng đá kê bếp, tro đã nguội, mấy vỏ khoai cháy. Không có ai.

Bà Cửu hỏi khắp xóm. Không ai thấy một bà già lạ. Có một đứa nhỏ chăn bò nói thấy một bà đội nón ngồi dưới gốc phi lao ngoài nghĩa địa từ sáng sớm, mà khi nó dắt bò tới gần thì bà đứng dậy đi mất.

– Bả trốn tụi mình. – Út Ngò nói. Nó đứng giữa bãi lau, tóc dính đầy bông lau trắng, mặt lấm bùn. – Bả dẫn tụi mình tới đây rồi bả trốn.

– Bả không trốn tụi mình. – Lộc nói. – Bả trốn tui.

Chiều mười hai, o Lựu dẫn Lộc ra thành phố, tới một phòng xét nghiệm, lấy mẫu nước bọt của hai cô cháu. Khải đi theo lo giấy tờ. Cô nhân viên nói kết quả mất chừng hai tuần, gửi về theo đường bưu điện hoặc báo qua điện thoại. O Lựu trả tiền, nhất định không để Lộc trả. Trên đường về, chị ngồi sau xe Lộc, hai tay ôm eo anh, má áp vào lưng anh suốt cả quãng đường bốn chục cây số.

Tối mười hai, Lộc gọi điện về Vũng Tàu. Ông Sáng và bà Mơ nghe hết, im lặng rất lâu. Rồi bà Mơ nói, giọng nghẹn:

– Con cho má nói chuyện với o của con được không?

Lộc đưa điện thoại cho o Lựu. Hai người đàn bà, một ở Vũng Tàu, một ở Đò Trai, nói chuyện với nhau gần một tiếng. Nghi ngồi ở hiên, nghe loáng thoáng. Họ không nói gì nhiều về chuyện đã qua. Họ nói về chuyện thằng nhỏ hồi bé hay ăn gì, sợ gì, ngủ có hay đạp mền không. Có lúc cả hai cùng cười. Có lúc cả hai cùng khóc. Cuối cùng bà Mơ nói, sau Trung Thu ông bà sẽ ra.

Ngày mười ba, trời bắt đầu đổi. Sáng còn nắng nhạt, trưa thì mây kéo tới từ phía biển, đen kịt, thấp lè tè, chạy nhanh như có ai rượt. Gió nổi lên từng cơn. Trên loa phát thanh của xã, giọng một người đàn ông đọc đi đọc lại thông báo về cơn bão, giờ đổ bộ, những xóm ven sông phải di dời. Dân quân đi từng nhà, giúp người già, khuân đồ lên gác. Ở Đò Trai, người ta kéo ghe thuyền lên bờ, buộc vào gốc cây. Anh Tuất neo đò, nói mai chạy được thì chạy, không được thì nghỉ.

Bốn đứa ở lại nhà o Lựu. Nhà có gác xi măng, đủ chỗ. O Lựu chất gạo, nước, mì gói, đèn pin, nến lên gác. Út Ngò phụ một tay, khiêng đồ lên xuống không biết mệt, như muốn làm cho tay chân bận để khỏi nghĩ. Khải ra chợ mua một cuộn dây thừng nilon dài năm chục mét, mấy cái áo phao, một cái đèn pin đội đầu loại sạc. Không ai hỏi cậu mua để làm gì.

Tối đó, Nghi thấy Khải ngồi dưới hiên, dạy Lộc thắt một cái nút dây. Cậu thắt mẫu, tháo ra, đưa Lộc thắt lại. Thắt sai, tháo ra, thắt lại. Hai đứa không nói gì khác ngoài "vòng qua", "kéo lên", "chưa chặt". Thắt tới lần thứ mười thì Lộc làm được mà không cần nhìn.

Đêm mười ba, Nghi ngủ không được. Cô nằm trên gác nhà o Lựu, nghe gió rít qua cây gạo ngoài bến, nghe tiếng sông mỗi lúc một to. Cô nghĩ tới một người đàn bà ho ra máu, ngủ trong bãi lau, ăn khoai nướng, nhìn qua sông về phía căn nhà có bàn thờ thằng Sẻ. Nghĩ tới mười tám triệu tiền lẻ cột dây thun. Nếu dì không về kịp.

Gần sáng, cô nghe Lộc trở mình bên cạnh. Anh thì thầm:

– Bà nghĩ bả muốn làm gì?

Nghi không trả lời được. Cô nghĩ tới chữ "mười bốn tới rồi" mà bà nói với Phúc Còi qua điện thoại. Cô nghĩ tới cái kiểu người ta trả hết nợ trước khi đi xa.

– Tui không biết. – Cô nói. – Mà mình phải tìm được bả trước tối nay.

Sáng mười bốn, mưa bắt đầu. Mưa nặng hạt, xối xả, rồi ngớt, rồi lại xối xả. Mặt sông đục ngầu, chảy xiết, cuốn theo củi, rác, cả những bè lục bình to bằng cái chiếu. Mực nước lên thấy rõ, mấy bậc đá cuối ở bến Đò Trai đã ngập.

Hai giờ chiều, điện thoại Út Ngò reo. Bà Cửu gọi từ bên Cồn Lở, qua máy của đứa cháu nội.

– Con Lịch tới nhà bà. – Bà Cửu nói, giọng bà run. – Mới đây. Gõ cửa. Bà mở ra, nhận không ra. Hắn già quá. Hắn kêu bà là "o Cửu" như hồi xưa. Hắn hỏi thăm bà mạnh không. Rồi hắn đưa cho bà một cái gói, nói đưa cho thằng nhỏ đó.

– Gói gì bà?

– Bà không mở. Hắn dặn đừng mở, đưa tận tay. – Bà Cửu thở dốc. – Bà kêu hắn vô nhà, mưa bão tới rồi. Hắn không chịu. Hắn nói tối ni hắn ra thăm thằng Tí. Rồi hắn đi về phía nghĩa địa. Bà gọi theo, hắn không quay lại.

Lộc đứng dậy, với cái áo mưa màu cam.

Anh Tuất không muốn chạy đò. Nước lớn, chảy xiết, đò máy nhỏ, chở người qua lúc này là liều. Nhưng khi nghe Lộc nói, anh im một lúc, rồi đội cái nón cối lên, đi ra bến, giật máy. O Lựu đứng trên bến, nắm tay Lộc, không chịu buông.

– Đi về. – Chị nói. – Nghe chưa. Đi về.

– Dạ. – Lộc nói. – Con về.

Chuyến đò đó đi chừng mười phút mà Nghi tưởng như cả tiếng. Chiếc đò bị nước đẩy trôi xuống gần trăm mét mới chếch được vô bờ bên kia. Mưa quất vào mặt rát như cát. Út Ngò ngồi bệt dưới lòng đò, ôm cuộn dây thừng của Khải. Khải một tay bám thành đò, một tay giữ cái máy thu âm nhét trong túi ni lông, đeo trước ngực. Lộc đứng ở mũi, nhìn bờ lở mỗi lúc một gần.

Bà Cửu đứng chờ ở chân đê, che cái nón lá, tay cầm một cái gói bọc ni lông. Bà dúi nó vào tay Lộc, không nói gì, rồi quay đi lên nhà, dân quân đang chờ đưa bà ra trường học tránh bão.

Lộc mở cái gói ngay dưới mưa.

Bên trong là một cái đồng hồ đàn ông, mặt tròn, kính trầy xước tới mức không thấy kim, quai da đỏ đã bạc thành màu gạch, mép quai sờn rách. Cái đồng hồ của ông Lê Văn Hào, người đi biển không về. Cái đồng hồ mà người đàn bà kia đeo không rời từ năm chồng mất, hơn hai mươi năm, tắm cũng không tháo.

Kèm theo là một tờ giấy tập học trò, gấp tư. Lộc mở ra. Chữ viết bằng bút bi, nét run run, nguệch ngoạc, chữ to chữ nhỏ, như người lâu lắm rồi mới cầm bút:

"Con tên là Trương Minh Tâm. Ở nhà kêu là Sẻ. Bên kia sông, nhà sát cây gạo. Mạ không phải mạ của con. Mạ xin lỗi."

Nước mưa rơi xuống tờ giấy, làm mực nhoè ra. Lộc gập tờ giấy lại, nhét vào túi áo ngực, cài nút. Anh đeo cái đồng hồ dây đỏ vào cổ tay phải.

– Đi. – Anh nói.

Họ chạy ra nghĩa địa cát. Mưa trắng trời. Mấy cây phi lao ngả rạp, rít lên như ai thổi sáo. Trên nấm mộ thằng Tí, ba chân nhang đã tắt, bị mưa dập gãy. Cạnh lư hương có một cái lồng đèn ông sao bằng giấy kiếng đỏ, ướt sũng, xẹp lép. Không có ai.

– Bãi lau. – Nghi la lớn qua tiếng gió.

Họ lùng dọc bờ lở, quanh xóm, ra tận bến cũ, gọi khản cổ suốt hơn một tiếng. Rồi họ chạy xuống khúc quanh. Trời đã tối sầm, mới bốn giờ chiều mà như chạng vạng. Khải bật cái đèn đội đầu. Bãi lau hôm kia họ lội còn ngập tới mắt cá, giờ nước đã lên tới đầu gối, chảy xiết, kéo chân người ta đi. Lau ngả rạp hết về một phía, bông lau ướt bết như tóc người chết đuối.

Nghi bấm điện thoại gọi số dân quân xã mà bà Cửu cho từ sáng. Cô hét vào máy: có một người phụ nữ lớn tuổi ở bãi lau dưới khúc quanh Cồn Lở, có thể gặp nguy, cần người tới. Đầu dây bên kia nói đã nghe, đang có người đi, giữ an toàn, đừng ai xuống nước.

– Bả đâu? – Út Ngò khóc, rọi đèn pin khắp nơi. – Dì Tư ơi! Dì Tư!

Gió cuốn tiếng nó đi mất.

Lộc đứng ở mép bãi lau. Anh rút cái còi tre trong túi quần ra. Anh đưa lên miệng, quay mặt ra phía sông.

Anh thổi. Trầm, bổng, trầm. Ba nốt còi xé qua tiếng mưa, mỏng, nhỏ, như tiếng một con chim lạc bầy.

Rồi lần nữa. Trầm, bổng, trầm.

Lần thứ ba, khi nốt cuối còn đang ngân, từ phía ngoài bãi lau, gần dòng chảy chính, có tiếng người.

Không phải tiếng gọi. Không phải tiếng kêu cứu. Một giọng đàn bà khàn, đứt quãng, đang hát.

– À… ơi… con ngủ cho say…

Khải chĩa đèn đội đầu về phía đó. Vệt sáng xuyên qua màn mưa, qua đám lau ngả rạp, tới một cây cọc tre cắm ở rìa bãi, nơi nước sông đã tràn qua thành một dòng xiết màu đục.

Bám vào cây cọc tre đó, nước đã lên tới ngực, là một người đàn bà. Đầu không đội nón, tóc bạc xoã ra, cái khăn len xám quấn cổ đã tuột một nửa, trôi lềnh bềnh trên mặt nước. Một tay bà ôm cây cọc. Tay kia giơ lên khỏi mặt nước, cầm một cái lồng đèn giấy nhỏ, cái lồng đèn đã tắt.

Bà nhìn thẳng vào vệt đèn. Bà không gọi ai. Bà chỉ hát tiếp, chậm, như ru một đứa nhỏ đang nằm ngủ ngay trước mặt mình.

– Đò sang bến lở… mẹ đợi… bến bồi…

Rồi một bè lục bình to bằng cái chiếu trôi xuống, đập vào cây cọc. Cây cọc nghiêng đi.

— Hết chương 17 —

Mục lục Ba nốt còi tre

  1. 1Ba nốt còi tre9 phút
  2. 2Cột cây số trên đồi cát11 phút đọc
  3. 3Dấu tay trên tấm bạt9 phút đọc
  4. 4Kho muối biết hát ru10 phút đọc
  5. 5Con cá khắc trên xà gỗ10 phút đọc
  6. 6Cá khô trước ngưỡng cửa10 phút đọc
  7. 7Những giây bị cắt9 phút đọc
  8. 8Tờ giấy ở bến xe9 phút đọc
  9. 9Tiếng khóc trong ống cống đèo9 phút đọc
  10. 10Ga xép không người gác10 phút đọc
  11. 11Tấm ảnh chụp bằng điện thoại cũ9 phút đọc
  12. 12Bến đò mùa nước bạc9 phút đọc
  13. 13Hai bờ sông Rào Mây9 phút đọc
  14. 14Ngôi mộ cát ở Cồn Lở9 phút đọc
  15. 15Chuyến đò ngang sang Đò Trai9 phút đọc
  16. 16Bàn thờ bên kia sông9 phút đọc
  17. 17Đêm mười bốn9 phút đọc
  18. 18Ba nốt dưới nước10 phút đọc
  19. 19Bánh Trung Thu cho thằng Sẻ9 phút đọc
  20. 20Tệp âm thanh không tên9 phút đọc

Về truyện này

Ba nốt còi tre là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Tín của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →