Chương 6: Cá khô trước ngưỡng cửa
"Coi rồi. Bà Hai còn mạnh. Đi lên nữa. Xóm chài Gành Dừa, mấy bà già ở đó kể có người đàn bà đêm đêm đi gõ cửa xin nước cho thằng con, ai cho nước thì sáng ra trước cửa có con cá khô. Hỏi mấy người phơi cá."
Nghi đọc thư thứ ba trên xe khách, giọng đều đều, như đọc một tin thời tiết. Lộc ngồi ghế trước, tai nghe đeo một bên, gật đầu. Út Ngò nói có lẽ người gửi thư là một bà cụ đi buôn đường dài, quen biết khắp miền Trung. Khải ngồi cạnh Nghi, không nói gì, mắt nhìn ra cửa sổ, nơi những ruộng lúa xanh rì đã bắt đầu thay cho đồi cát và xương rồng.
Đêm qua, Khải và Nghi thống nhất: chưa hỏi Lộc. Chưa phải lúc. Khải muốn có bằng chứng trước.
– Thẻ nhớ bị xoá thì chưa chắc đã mất. – Khải nói nhỏ khi xe dừng ở một trạm nghỉ, Lộc với Út Ngò đi mua bánh ít lá gai. – Xoá chỉ là xoá cái tên trong mục lục. Dữ liệu còn nằm đó cho tới khi có cái khác ghi đè lên. Thẻ sáu mươi tư gigabyte, mình thu có mấy tiếng, còn trống nhiều. Sáng nay tui rút nó ra, thay thẻ dự phòng. Tối nay tui chạy phần mềm khôi phục.
– Ông nghĩ trong đó có gì?
Khải nhìn qua cửa kính, chỗ Lộc đang đứng trả tiền, cười với bà bán bánh.
– Bà có thấy chuyến này lạ không? – Cậu hỏi ngược. – Một người lạ gửi thư lúc hai giờ bốn mươi sáng, đúng cái đêm mình quay xong. Biết tên kênh. Biết ông Bảy Lực. Biết bà Hai. Mỗi tập lên kênh xong là có thư mới. Lượt xem mỗi tập gấp đôi tập trước. Có nhà tài trợ nhảy vô. Và trong lúc đó, Lộc cắt bốn mươi giây trong cuộc phỏng vấn mà không nói với ai, xoá cả bản gốc. Lộc không thổi còi ở kho muối. Lộc nói dối bà Hai là để còi ở nhà nghỉ.
– Ông nghĩ Lộc là người gửi thư.
– Tui nghĩ có người đang dựng một loạt phim. – Khải nói. – Một loạt phim có cốt truyện, có bí ẩn nối tập, có người đàn bà và đứa nhỏ xuất hiện ở mọi chặng. Đẹp quá. Ăn khớp quá. Đời thật không ăn khớp vậy.
Nghi không trả lời. Cô nhớ cái mặt trắng bệch của Lộc dưới tấm bạt xanh. Cô nhớ anh đứng giữa đồng muối lúc hai giờ sáng. Người ta có thể diễn nhiều thứ, nhưng cô không tin người ta diễn được cái mặt đó.
Nhưng cô cũng nhớ Lộc nói ba chục triệu đủ cho tụi mình đi hết chuyến này, dư.
Xóm chài Gành Dừa nằm trên một mỏm đất nhô ra biển, thuộc vùng ven biển phía đông của tỉnh Đắk Lắk mới, chỗ ngày trước là đất Phú Yên. Đường vào xóm chạy qua một bãi đá đen, đá núi lửa nguội thành những cột lục giác xếp sát nhau như ai đóng cọc. Mùi cá nồng nặc từ cách nửa cây số. Mùi cá cơm phơi, mùi nước mắm ủ trong lu, mùi rong mục, mùi khói bếp củi.
Trong xóm, sân nhà nào cũng là sân phơi cá. Những tấm lưới cước căng trên khung tre ngang thắt lưng, trên lưới rải kín cá cơm, cá chỉ vàng, cá nục bổ đôi, phơi bạc trắng dưới nắng. Mấy bà, mấy cô ngồi dưới mấy cái dù bạc màu, tay lật cá, miệng nói chuyện oang oang. Ruồi bay vo vo. Mèo thì nhiều vô kể, con nào cũng mập, con nào cũng nằm duỗi dài dưới giàn cá, mắt lim dim.
Người đầu tiên chịu nói chuyện là một bà cụ ngồi vá lưới trước hiên. Bà kể chuyện "bà ma xin nước" như người ta kể chuyện thời tiết năm ngoái. Đêm mưa, có tiếng gõ cửa. Một giọng đàn bà xin miếng nước cho đứa nhỏ. Nhà nào mở cửa cho nước thì sáng ra trước ngưỡng cửa có con cá khô. Nhà nào không mở thì ghe ra biển ba bữa không được con cá nào.
– Bà có được cá khô không bà? – Út Ngò hỏi.
– Được hoài. – Bà cụ cười. – Mà nhà tao ở sát giàn phơi, mèo nó tha cá rớt ngay cửa. Bữa nào chẳng được.
Lộc phá lên cười, lần đầu tiên trong mấy ngày. Khải quay cận một con mèo mướp đang ngoạm con cá nục khô to gần bằng cái đầu nó, chạy lạch bạch qua sân. Cảnh đó sẽ thành ảnh bìa, Út Ngò tuyên bố.
– Mà hồi đầu thì có người thiệt. – Bà cụ nói tiếp. – Đi hỏi con Thâu. Hồi đó nó phơi cá cho má nó, nó biết.
Cô Ba Thâu bốn mươi tám tuổi, người đậm, giọng to, vai rộng như đàn ông. Cô có một sân phơi lớn nhất xóm, thuê sáu người làm. Nghe hỏi chuyện bà ma xin nước, cô không cười, cũng không đuổi. Cô kêu một đứa làm công ra lật cá thay, rồi kéo bốn người vào trong cái nhà lá sau sân, rót nước chè xanh nấu trong ấm nhôm.
– Hồi đó má tui còn sống. Sau Tết năm hai ngàn lẻ tám, tháng Hai, tháng Ba gì đó. – Cô Ba Thâu kể. – Con nhỏ đó dắt thằng con tới, xin phơi cá. Má tui cho, trả mỗi ngày một ký gạo với con cá. Cho ngủ trong cái chòi chứa lưới ở cuối bãi. Chòi không có nước, không có gì. Đêm thằng nhỏ sốt, khát, con nhỏ đi gõ cửa mấy nhà gần đó xin nước. Người ta mở cửa, thấy một con đàn bà đầu trùm khăn đen, mặt ốm nhom, ôm thằng nhỏ trong tay, nhiều người sợ, đóng cửa cái rầm.
– Còn con cá khô? – Nghi hỏi.
– Nó lãnh cá thì nó để lại cho nhà nào cho nó nước. Sáng sớm, trước khi ai dậy. Nó không nói, cũng không gõ cửa, nó để ở ngưỡng cửa rồi đi. – Cô Ba Thâu gõ gõ móng tay lên mặt bàn gỗ. – Nó nghèo vậy mà nó không chịu mắc nợ ai. Một bụm nước mà nó trả một con cá.
Khải hạ máy quay xuống một chút. Nghi thấy cậu đang nhìn cô Ba Thâu bằng con mắt khác. Không phải cái nhìn của người đo đạc. Cái nhìn của người tự hỏi: cô này có được ai trả tiền để nói vậy không.
– Rồi người ta nói thành ma là vì sao cô? – Lộc hỏi.
– Vì nó đi rồi mà mèo vẫn tha cá về ngưỡng cửa. – Cô Ba Thâu cười. – Với lại cái nhà nào đóng cửa với nó, mấy bữa sau ghe ra biển gặp gió, không được cá. Mùa đó gió nhiều, ghe nào cũng không được cá. Mà người ta chỉ nhớ cái nhà nào đóng cửa.
Cô rót thêm nước chè. Rồi cô im một lúc lâu, như đang nghĩ có nên kể tiếp không.
– Có một cái tui nhớ hoài. – Cô nói. – Thằng nhỏ đó, tối nào sốt cũng khóc. Mà nó khóc không kêu mẹ. Nó kêu "o". O ơi. O ơi. Hồi đó tui không hiểu "o" là cái gì, tưởng con nít ú ớ. Sau này tui lấy chồng, chồng tui người Quảng Bình, ổng nói ngoài đó "o" là cô. Là em gái của cha.
Út Ngò ngồi thẳng lên.
– Vậy là thằng nhỏ đòi cô nó?
– Ừ. Còn con nhỏ kia thì ôm nó, vỗ nó, nói hoài một câu. – Cô Ba Thâu nhại lại, giọng đổi hẳn sang giọng một vùng nào đó ngoài xa, nặng và trầm: – "O mô mà o. Mạ đây. Mạ đây, Tí."
Câu nói rơi xuống giữa nhà lá như một hòn đá rơi xuống giếng.
Nghi không nhìn Lộc. Cô cố ý không nhìn. Nhưng cô nghe cái ly nước chè trong tay anh chạm vào mặt bàn, một tiếng cạch nhỏ, như tay người ta vừa bị trượt.
– Thằng nhỏ có cái còi không cô? – Khải hỏi. Giọng cậu bình thường.
Cô Ba Thâu nhíu mày, nghĩ một lúc.
– Không. Không có còi. Tui nhớ là không, vì nó ít khi chơi cái gì. Có thì tui nhớ.
Khải gật đầu chậm, nhìn sang Nghi. Cô hiểu cái nhìn đó: theo lời bà Hai, cái còi được gọt ở kho muối, tháng Ba tháng Tư. Cô Ba Thâu kể chuyện tháng Hai tháng Ba, trước đó. Thứ tự khớp. Quá khớp. Một người dựng chuyện cẩn thận sẽ dựng được tới mức đó.
Hoặc là chuyện thật.
Chiều, họ quay cảnh hoàng hôn trên bãi đá đen. Lộc đứng trên một cột đá lục giác, sóng đánh vào chân đá trắng xoá, nói lời kết. Lần này anh thổi còi. Ba nốt vang lên trên mặt biển, rõ, buồn, nốt cuối kéo dài tới khi anh hết hơi. Mấy người phơi cá dưới bãi ngẩng đầu lên nhìn. Cô Ba Thâu đứng ở đầu sân phơi, tay cầm cái rổ, nhìn lên bãi đá rất lâu.
Tối đó họ ngủ ở một homestay nhỏ cuối xóm, nhà sàn gỗ, phòng chung, trải nệm dưới sàn. Út Ngò ngủ trước tiên. Lộc nói đi dạo, đi ra bãi. Khải đợi anh đi khuất mới mở máy tính, cắm cái thẻ nhớ vô.
Nghi ngồi xuống cạnh Khải. Trên màn hình, một thanh tiến trình màu xanh chạy chầm chậm. Phần mềm quét từng khối dữ liệu trên thẻ. Chữ nhỏ chạy liên tục: tìm thấy tệp, tìm thấy tệp, tệp bị hỏng, tìm thấy tệp.
– Lâu không?
– Tùy. Thẻ lớn. Cỡ một tiếng.
Họ ngồi chờ. Gió biển lùa qua khe ván, mang theo mùi cá phơi. Ngoài xa có tiếng máy ghe nổ lạch xạch, ghe đi đêm. Út Ngò trở mình, nói mớ gì đó về muối.
– Khải. – Nghi nói. – Nếu đúng là Lộc dựng chuyện, ông tính sao?
– Thì nói với người xem. – Khải đáp, không do dự. – Mình làm kênh "đi coi rồi kể". Nếu chuyến này là đồ dựng, mình phải nói ra trước khi người khác nói.
– Còn Lộc?
Khải không trả lời ngay. Cậu tháo cặp kính ra, lấy vạt áo lau, đeo lại.
– Tui ở chung phòng với nó ba năm. – Cậu nói. – Năm nhất tui bệnh sốt xuất huyết, nó chở tui đi viện lúc hai giờ sáng, ngồi canh tui ba ngày, nghỉ thi một môn. Tui biết nó là người tốt. Nên tui mới khó chịu. Người tốt mà nói dối thì phải có lý do lớn lắm.
Thanh tiến trình chạy tới chín mươi phần trăm. Rồi chín mươi tám. Rồi một cửa sổ hiện ra. Danh sách tệp tìm được. Phần lớn là tệp âm thanh với tên tự đặt theo ngày giờ.
Khải dò từng dòng. Ngón tay cậu dừng lại ở một tệp. Tên tệp là ngày ở chỗ ông Bảy Lực. Kích thước khớp. Trạng thái: phục hồi được.
Cậu bấm khôi phục. Một vòng tròn quay quay.
Ngoài cửa, tiếng ván sàn kêu cót két. Nghi quay đầu lại. Không có ai. Chỉ là gió, hoặc con mèo, hoặc ai đó đi ngang hiên. Cô nhìn lại màn hình.
Tệp đã khôi phục xong. Một biểu tượng nhỏ hình cái loa nằm trên màn hình, chờ được mở.
Khải đeo tai nghe vào một bên, đưa cho Nghi bên kia. Ngón tay cậu đặt trên phím cách.
– Bốn mươi giây. – Cậu nói. – Nghe xong rồi tính.
Cậu bấm.
— Hết chương 6 —

🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe