AI Truyện
Ba nốt còi tre

🕯️ Truyện ma kinh dị

Ngôi mộ cát ở Cồn Lở

Ba nốt còi tre · Chương 14/20 · Sáng tác: AI Truyện

📖 9 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 14: Ngôi mộ cát ở Cồn Lở

Tấm bia nhỏ bằng xi măng, cao chưa tới đầu gối, chữ khắc tay rồi tô sơn đen, sơn đã tróc gần hết. Lộc quỳ xuống trên cát, bật đèn pin điện thoại, rọi vào từng chữ.

Lê Văn Tí. Sinh năm 2004. Mất ngày 14 tháng 8 năm Đinh Hợi.

Bên dưới có thêm một dòng nhỏ hơn, khắc vụng hơn, như do một người khác khắc thêm về sau: Con của Lê Văn Hào và Phan Thị Lịch.

Ba nén nhang cháy đỏ trong cái lư hương bằng lon sữa bò cắt đôi. Khói bay nghiêng theo gió sông. Bên cạnh lư hương, cái gói giấy tập học trò đã được mở ra. Bên trong là một củ khoai lang nướng chẻ đôi, nửa nằm ngửa, nửa nằm úp, như một mâm cúng của người không có gì khác để cúng.

– Đinh Hợi. – Khải nói. Giọng cậu nghe như từ dưới đáy giếng. – Năm hai ngàn lẻ bảy.

Không ai trả lời. Cả bốn người đều đã đếm ra.

Năm hai ngàn lẻ bảy, ngày mười bốn tháng Tám, thằng Tí đã chết. Đã được chôn ở đây, dưới nấm cát này, cạnh hàng phi lao này. Vậy mà tháng Mười một năm đó, ở bến đò Vĩnh Lại, một người đàn bà ôm một đứa nhỏ lội ra sông, khai với cô y sĩ trạm xá rằng đứa nhỏ tên là Lê Văn Tí, ba tuổi. Tháng Mười hai, ở chòi gác chắn ga Phú Cang, đứa nhỏ đó chỉ vào ngực mình và nói "Sẻ".

Lộc vẫn quỳ. Anh đưa tay ra, chạm vào tấm bia, rà ngón tay lên cái tên khắc trên đó. Tí.

– Tui không phải Tí. – Anh nói.

Câu nói đơn giản tới mức nghe như một câu đùa. Nhưng không ai cười. Nghi thấy hai vai anh rũ xuống, như ai vừa nhấc khỏi lưng anh một vật nặng mà anh không biết mình đã gánh. Rồi ngay sau đó, hai vai anh căng lên lại, vì một vật khác, nặng hơn, đè xuống.

– Tui không phải Tí. – Anh nhắc lại. – Vậy tui là ai?

Út Ngò quỳ xuống bên cạnh anh, ôm lấy cánh tay anh. Khải đứng sau, đèn pin chĩa xuống cát. Nghi nhìn ra phía bờ sông, nơi hàng dấu chân trên cát dẫn tới rồi mất trong đám cỏ. Bóng tối bên đó đặc quánh. Ở đâu đó trong bóng tối ấy, người đã thắp ba nén nhang này đang đứng, đang nhìn.

– Bả biết. – Khải nói. – Bả biết từ đầu. Bả gọi mày là Tí, mà bả biết thằng Tí nằm đây.

– Ông nói bả bắt cóc tui.

– Tui không nói. – Khải lắc đầu. – Tui không biết. Có thể bả nhặt được mày. Có thể bả… – Cậu dừng lại. – Tui không biết.

Họ ngồi bên nấm mộ cho tới khi ba nén nhang tàn. Không ai đụng vào củ khoai. Lúc về, Lộc gói nó lại bằng tờ giấy tập, đặt lại ngay ngắn cạnh lư hương.

Sáng hôm sau bà Cửu dẫn họ ra lại nghĩa địa cát. Nhìn thấy chân nhang mới, bà khựng lại một chút, rồi không nói gì. Bà ngồi xuống cạnh mộ, phủi cát trên bia, rồi kể.

– Thằng chồng con Lịch tên Hào, đi biển, chết ngoài khơi năm thằng Tí mới hơn một tuổi. Gió mùa, chìm ghe, không tìm được xác. Con Lịch ở vậy nuôi con. Nhà nó ở sát mép sông, chỗ cái nền gạch bỏ hoang đó. – Bà chỉ ra phía bờ lở. – Nghèo nhất xóm. Làm thuê, mò hến, cấy mướn, ai kêu gì làm nấy. Mà thương con lắm. Thằng Tí đi đâu nó cũng địu theo.

Đêm mười ba tháng Tám năm Đinh Hợi, mưa từ chiều. Trên nguồn xả nước, mà ở xóm không ai được báo kịp. Gần nửa đêm nước lên, lên nhanh như có ai đổ. Nhà nào cao thì trèo lên gác, nhà nào thấp thì trèo lên nóc. Nhà con Lịch là nhà ngói thấp, vách đất, sát mép sông.

– Sáng ra nước còn ngập tới ngực. Người ta chèo thuyền đi tìm, thấy con Lịch ngồi trên nóc nhà nó, cái nóc chỉ còn ló lên khỏi mặt nước một khúc. Một mình. Hỏi thằng Tí đâu, nó không nói. Nó ngồi đó nhìn xuống nước, miệng lẩm bẩm. Ai kêu lên thuyền nó cũng không chịu. – Bà Cửu thở dài. – Rồi nước rút dần, nó trèo xuống, chui vô cái gác lửng nhà nó, đóng cửa lại. Ba ngày không ra. Ai gõ cửa nó cũng không mở. Ai đưa cơm thì để ngoài, sáng ra mất, chắc nó ăn.

– Ba ngày. – Nghi nhắc lại.

– Đêm thứ ba thì nó đi. Không ai thấy. Sáng ra cửa mở toang, gác trống trơn. Người ta đi kiếm quanh xóm, ra bến, ra chợ, không ai thấy nó. – Bà Cửu dừng lại, ngước mắt nhìn Lộc. – Hai ngày sau nữa, ở khúc quanh dưới hạ lưu, người ta tìm thấy thằng Tí. Mắc trong bụi lau.

Gió từ sông thổi tới, mang theo mùi nước đục.

– Cả xóm chôn nó ở đây. Không có mạ nó. Bà với mấy người trong xóm lo. Cái bia này là bà nhờ thằng cháu khắc. – Bà vuốt dòng chữ nhỏ bên dưới. – Dòng này mấy năm sau mới khắc thêm, để lỡ con Lịch có về thì biết là của nó.

– Người ta nghĩ bà Lịch đi đâu? – Khải hỏi.

– Thì nghĩ nó hoá điên. Mất chồng rồi mất con, ai mà không điên. Đi lang thang đâu đó, chết đâu đó. – Bà Cửu lắc đầu. – Có người nói thấy nó ở chợ thị trấn, ngồi ăn xin. Có người nói thấy nó vô Nam. Không ai chắc. Mười chín năm.

– Bà ơi. – Lộc nói. – Lúc bà Lịch đi, bả có dắt theo ai không? Một đứa nhỏ?

Bà Cửu nhìn anh, nhíu mày, như nghe một câu hỏi không có nghĩa.

– Dắt ai mô? Thằng Tí chết rồi mà cháu. Nó đi một mình.

– Không ai thấy một đứa nhỏ khác? Ở trên gác nhà bả, ba ngày đó?

– Gác đóng cửa. Ai mà thấy. – Bà Cửu nói. Rồi bà dừng lại. Rồi đôi mắt đục của bà mở to dần. – Mà… mà có bữa thứ hai, con Hường nhà bên đi ngang, nó nói nghe tiếng con nít khóc trên gác nhà con Lịch. Cả xóm nói nó nghe lộn. Nói con Lịch nhớ con quá, khóc giả tiếng thằng Tí. Có người còn nói ma thằng Tí về khóc với mạ nó.

Bà nhìn Lộc. Rất lâu.

– Trời đất ơi. – Bà nói, không ra tiếng.

Lộc kể. Lần này anh kể hết, từ bến xe Miền Đông, từ cái còi, tới chiếc dép có con chim sẻ, tới tấm ảnh ở chòi gác chắn. Bà Cửu ngồi nghe, hai bàn tay nhăn nheo đặt trên tấm bia, không động đậy. Khi anh kể xong, bà không nói gì một hồi lâu. Rồi bà đưa tay lên, chậm, như sợ chạm vào một cái gì vỡ, sờ lên mặt anh. Lên vầng trán. Lên cái tai vểnh.

– Bên tê sông. – Bà nói. – Năm đó bên tê sông cũng mất người. Nhiều lắm. Bà không rành bên đó.

Họ đi về. Út Ngò đi sau cùng, chậm, cứ ngoái lại nhìn nấm mộ nhỏ. Lúc qua con đê, nó bước lên sát bên bà Cửu, đỡ tay bà.

– Bà ơi. – Nó nói. – Hồi đó bà Lịch trông sao bà? Bả có cái gì để nhận ra không?

Bà Cửu nghĩ một chút.

– Cái cổ. – Bà chỉ vào cổ mình, bên trái. – Hồi nhỏ nó bị nồi cám sôi đổ trúng, phỏng một mảng to như bàn tay. Lớn lên mặc áo gì cũng quấn khăn che. Mấy đứa con gái trong xóm hồi đó hay chọc nó.

Út Ngò dừng bước.

– Với cái đồng hồ. – Bà Cửu nói tiếp, không để ý. – Cái đồng hồ của thằng Hào chồng nó. Thằng Hào đi biển để ở nhà, cái đồng hồ đàn ông bự tổ chảng, dây da đỏ. Thằng Hào chết thì nó đeo. Đeo tay mặt, tại cái tay trái nó hay đau. Đeo không rời. Tắm cũng không tháo.

Út Ngò đứng im giữa con đê. Nghi đi phía trước, nghe tiếng chân sau lưng dừng lại thì quay đầu.

Mặt Út Ngò trắng bệch. Môi nó mấp máy. Nó nhìn Nghi, rồi nhìn Lộc, rồi nhìn xuống cái túi vải trước ngực mình, như tìm một cái gì đó trong đó. Bịch muối. Cây nhang. Không còn gì khác. Khoai thì ăn hết từ đêm rằm tháng Bảy rồi.

– Chị Nghi. – Nó nói. Giọng nó run tới mức vỡ ra từng mảnh. – Dì Tư.

– Dì Tư nào? – Khải hỏi.

– Dì Tư bán khoai đầu hẻm. – Út Ngò nói, nước mắt trào ra. – Dì quàng khăn len, trời nóng mấy cũng quàng. Có một bữa gió thổi lệch cái khăn, tui thấy cổ dì có vết sẹo, dì kéo khăn lên liền. Dì đeo cái đồng hồ đàn ông dây đỏ ở tay mặt. Cái mặt kính trầy hết, coi giờ không được, mà dì không tháo. Dì nói giọng lơ lớ. Dì ho. Dì không có giấy tờ. Dì gói khoai bằng giấy tập học trò. Dì lúc nào cũng gói dư một củ cho anh Lộc.

Trên con đê, không ai nhúc nhích.

Nghi nhớ lại. Đêm rằm tháng Bảy. Gần ba giờ sáng. Cái ghế nhựa thấp dưới đèn đường. Người đàn bà ngồi thẳng lưng, hai tay đặt trên đầu gối, nhìn chằm chằm vào khung cửa sổ tầng dưới căn nhà cuối hẻm. Cái chấm trắng loé lên trên mặt kính đồng hồ. Cái con cá quẫy đuôi dưới mặt nước đục mà đêm ở ga Phú Cang cô không nắm được.

Cô nắm được rồi.

– Từ sau Tết. – Út Ngò khóc thành tiếng. – Dì bán ở đó từ sau Tết. Ngay đầu hẻm nhà mình. Gần bảy tháng. Ngày nào anh Lộc cũng đi ngang.

Lộc đứng trên con đê, gió sông thổi tốc áo. Anh nhìn qua sông, qua cây gạo bên bờ Đò Trai, rồi quay lại nhìn bãi cát trắng, nấm mộ nhỏ, ba chân nhang tàn.

Rồi anh làm một việc mà không ai ngờ. Anh lấy cái còi tre trong túi ra, đưa lên miệng, quay về phía bờ sông bên này, phía đám cỏ nơi hàng dấu chân đêm qua biến mất.

Anh thổi. Trầm, bổng, trầm.

Ba nốt còi bay qua bãi cát, qua hàng phi lao, tan vào tiếng nước chảy.

Không có ai đáp lại. Chỉ có ở đâu đó trong đám cỏ ven sông, một tiếng ho. Khan. Ngắn. Rồi tắt.

— Hết chương 14 —

Mục lục Ba nốt còi tre

  1. 1Ba nốt còi tre9 phút
  2. 2Cột cây số trên đồi cát11 phút đọc
  3. 3Dấu tay trên tấm bạt9 phút đọc
  4. 4Kho muối biết hát ru10 phút đọc
  5. 5Con cá khắc trên xà gỗ10 phút đọc
  6. 6Cá khô trước ngưỡng cửa10 phút đọc
  7. 7Những giây bị cắt9 phút đọc
  8. 8Tờ giấy ở bến xe9 phút đọc
  9. 9Tiếng khóc trong ống cống đèo9 phút đọc
  10. 10Ga xép không người gác10 phút đọc
  11. 11Tấm ảnh chụp bằng điện thoại cũ9 phút đọc
  12. 12Bến đò mùa nước bạc9 phút đọc
  13. 13Hai bờ sông Rào Mây9 phút đọc
  14. 14Ngôi mộ cát ở Cồn Lở9 phút đọc
  15. 15Chuyến đò ngang sang Đò Trai9 phút đọc
  16. 16Bàn thờ bên kia sông9 phút đọc
  17. 17Đêm mười bốn9 phút đọc
  18. 18Ba nốt dưới nước10 phút đọc
  19. 19Bánh Trung Thu cho thằng Sẻ9 phút đọc
  20. 20Tệp âm thanh không tên9 phút đọc

Về truyện này

Ba nốt còi tre là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Tín của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →