Chương 16: Bàn thờ bên kia sông
Trên bàn thờ nhà o Lựu có năm tấm ảnh, và tấm nhỏ nhất là gương mặt Lộc.
Không phải gương mặt Lộc bây giờ. Gương mặt Lộc lúc ba tuổi, ngồi trên lưng một con ngựa nhựa màu vàng trong tiệm chụp ảnh, phía sau là tấm phông vẽ cảnh hồ nước có thiên nga. Thằng nhỏ mặc cái áo len đỏ cổ lọ, tay nắm bờm ngựa, miệng cười toe toét, sún một cái răng cửa. Hai cái tai vểnh ra hai bên như hai cái quai nồi. Ở đuôi mắt trái có một chấm nhỏ như hạt mè.
Lộc đứng trước bàn thờ, hai tay buông thõng. Khói nhang bốc lên từ bát hương, uốn lượn qua tấm ảnh, làm gương mặt thằng nhỏ lúc mờ lúc rõ. Nghi đứng sau lưng anh một bước, và cô thấy một điều mà cả đời này cô sẽ không quên được: một người đàn ông hai mươi hai tuổi đang nhìn vào ảnh thờ của chính mình.
Nhà o Lựu nằm ngay sau cây gạo, cách bến đò chừng năm chục bước. Ba gian nhà ngói cũ, hồi sau lũ được xây thêm một tầng gác bằng xi măng phía sau. Sân gạch, giàn mướp, cái giếng khơi có nắp đậy. Bàn thờ đặt ở gian giữa, gỗ mít sẫm màu. Năm tấm ảnh xếp thành hàng: ông bà nội, chụp kiểu ảnh thẻ, nghiêm nghị; một người đàn ông chừng ba mươi, da ngăm, tai vểnh, cười hiền; một người phụ nữ trẻ mặc áo dài trắng, tóc kẹp ngang, ảnh cắt ra từ một tấm ảnh cưới; và thằng nhỏ trên lưng ngựa nhựa.
Dưới tấm ảnh người đàn ông có một dòng chữ viết tay trên miếng giấy đỏ dán vào khung: Trương Văn Thắm. Dưới tấm ảnh người phụ nữ: Hà Thị Nguyệt. Dưới tấm ảnh thằng nhỏ: Trương Minh Tâm.
Bên cạnh bát hương có một cái bánh dẻo tròn, giấy bóng kính đã ngả vàng, cái nhãn tróc một góc.
– Bánh Trung Thu năm ngoái. – O Lựu nói. Chị đứng ở cửa buồng, hai tay nắm chặt vạt áo bà ba. Giọng chị khàn đặc vì khóc. – Năm mô cũng mua một cái. Mai mốt rằm thì thay cái mới.
Không ai trong nhóm đã kịp giải thích gì. Ở bến đò, sau câu "anh Thắm về", o Lựu đã ngồi sụp xuống bậc đá, giữa đám đậu phộng vương vãi, hai tay ôm mặt. Anh Tuất lái đò chạy lên đỡ. Lộc đứng như trời trồng. Rồi o Lựu ngẩng lên, nhìn anh lần nữa, lần này nhìn kỹ, từ cái tai, cái nốt ruồi, xuống tới bàn tay, và chị không nói "anh Thắm" nữa. Chị đứng dậy, nắm cổ tay anh, kéo anh đi về nhà, không nói một tiếng, như kéo một đứa nhỏ đi lạc về.
Bây giờ chị đứng ở cửa buồng, nhìn anh đứng trước bàn thờ.
– Tết năm đó chụp. Tiệm ảnh ngoài thị trấn. – Chị nói. – Cái áo len o đan. Đan ba tuần mới xong, len đỏ mua ở chợ, đan sai mấy lần, o tháo ra đan lại.
Lộc quay lại. Anh nhìn chị. Môi anh mấp máy.
– O. – Anh nói.
Chữ đó bật ra không phải như một câu hỏi, cũng không phải như một tiếng gọi. Nó bật ra như người ta hắt hơi, như người ta giật tay khỏi lửa. Lộc nghe chính mình nói thì giật mình, đưa tay lên che miệng.
O Lựu oà khóc. Chị bước tới, ôm lấy anh, cả người chị chỉ tới ngực anh. Chị ôm chặt tới mức cái còi tre trong túi quần anh cộm lên thành một cục cứng giữa hai người. Lộc đứng yên một lúc, hai tay lơ lửng. Rồi anh vòng tay lại, ôm chị. Anh cúi đầu xuống, mặt áp vào cái búi tóc của chị. Vai anh rung.
Út Ngò khóc thành tiếng. Khải quay mặt đi, nhìn ra giàn mướp. Nghi đứng yên, và cô nhận ra hai tay mình đang nắm chặt cuốn sổ tay tới mức gáy sổ gãy gập lại.
Một lúc lâu sau, khi o Lựu buông ra, chị đi vào buồng, lục lọi gì đó, rồi trở ra với một cái hộp bánh quy bằng thiếc, nắp gỉ sét. Chị đặt nó lên bàn nước, mở ra.
Bên trong là một cái nón vải con nít màu xanh, bạc màu. Một cuốn sổ khám bệnh nhỏ bìa hồng. Một tờ giấy khai sinh đã ố vàng: Trương Minh Tâm, sinh ngày mùng hai tháng Ba năm hai ngàn lẻ bốn, cha Trương Văn Thắm, mẹ Hà Thị Nguyệt. Và một cây đinh dài, đầu cháy đen.
– Cây đinh ni o nung trên bếp, đốt con chim lên dép cho nó. – O Lựu cầm cây đinh lên. – Hồi đó xóm ni con nít đi dép giống nhau hết, đi học mẫu giáo cởi ra để ngoài, về lấy lộn. O đốt con chim cho nó nhận dép mình. Kêu là thằng Sẻ vì đẻ ra nhỏ xíu, tiếng khóc chiếp chiếp như chim sẻ non.
Lộc lấy trong túi ra chiếc dép xanh của ôn Thiệt, đặt lên bàn nước, cạnh cây đinh.
O Lựu nhìn chiếc dép hồi lâu. Chị cầm lên, lật lại, nhìn con chim đốt ở đế. Ngón tay chị rà lên mấy vết lõm nâu sẫm, chậm, như đọc chữ nổi.
– Con chim ni o đốt bị lệch cái đầu. – Chị nói. – Cây đinh to quá, o đốt hư một lần rồi, phải đốt chồng lên.
Chị lật chiếc dép cho cả bốn người coi. Đúng thật, cái đầu con chim có hai vòng tròn chồng lên nhau, một vòng lệch sang trái.
Không ai còn cần thêm bằng chứng nào nữa. Nhưng Khải vẫn nói, nhẹ nhàng, như người làm công việc của mình tới cùng:
– O ơi. Mai mốt mình nên đi xét nghiệm ADN. Không phải vì nghi. Mà để làm giấy tờ cho đàng hoàng, để anh Lộc có thể nhận lại họ, nhận lại tên nếu ảnh muốn. Ở ngoài thành phố có chỗ làm, mẫu nước bọt thôi, mấy tuần có kết quả.
O Lựu gật đầu, không cãi.
– Xét chi cũng được. – Chị nói. – Mà o biết rồi.
Rồi Lộc kể. Thêm một lần nữa trong chuyến đi, anh kể lại từ đầu, và lần này anh kể chậm nhất. O Lựu ngồi nghe, hai bàn tay đặt trên đầu gối. Tới đoạn bến xe Miền Đông, chị nhắm mắt lại. Tới đoạn cột cây số mười bảy, đoạn kho muối, đoạn ống cống, chị không nhúc nhích. Tới đoạn ngôi mộ thằng Tí ở Cồn Lở, chị mở mắt.
– Con Lịch. – Chị nói. – Con Lịch bên Cồn Lở.
– O biết bả hả o?
– Biết chơ. Hồi nhỏ hắn hay chèo thúng qua bên ni bán hến. Lớn hơn o mấy tuổi. Hắn hiền, ít nói, cái cổ bị phỏng, mấy đứa con gái hay chọc. – O Lựu lắc đầu chậm. – Năm lũ đó, người ta nói hắn mất con, điên, bỏ đi. Không ai nghĩ…
Chị bỏ lửng. Rồi chị nhìn ra cửa, nhìn qua sân, qua cây gạo, qua sông, về phía bờ lở Cồn Lở bên kia.
– Đêm lũ, anh Thắm buộc thằng Sẻ lên cái giường tre. – Chị nói. – Ông nội kể lại. Nhà ba mẹ o ở trong xa, chỗ cao, còn nhà anh Thắm sát bến. Nửa đêm nước lên, anh Thắm chạy vô gọi ông nội, nói nước lên mau quá, rồi chạy về. Ông nội nói anh có kể là sẽ lấy cái giường tre lớn, buộc thằng nhỏ lên, buộc vào cột, nước lên thì giường nổi theo. Sáng ra nước rút bớt, nhà anh Thắm trôi mất, cái cột gãy, cái giường không còn. Anh Thắm thì mắc ở gốc gạo. Chị Nguyệt với thằng Sẻ thì…
Chị không nói hết. Không cần nói hết.
– Cái giường tre trôi qua bên kia sông. – Khải nói nhỏ, như đang vẽ trong đầu một sơ đồ dòng chảy. – Nước lũ chảy xiết, đẩy chéo qua bờ lở. Tới nhà bà Lịch.
– Bả ngồi trên nóc nhà mình. – Nghi nói. – Một mình. Không trả lời ai. Người ta đi rồi, nước rút dần, bả trèo xuống gác. Ba ngày không mở cửa. Có người nghe tiếng con nít khóc.
Căn nhà im phăng phắc. Ngoài sân, một con chuồn chuồn ớt đậu trên thành giếng.
– Rồi mười chín năm. – O Lựu nói, giọng không còn khóc, mà khô, như cái gì đó đã cháy hết. – Mười chín năm o thắp nhang cho nó. Mười tám cái bánh Trung Thu. Mà nó còn sống. Nó ngồi ở bến xe. Nó lớn lên ở Vũng Tàu. Nó đi học đại học. Nó làm phim ma.
Chị bật cười. Một tiếng cười lẫn với nước mắt, nghe như tiếng nấc.
Chiều xuống. O Lựu không cho bốn đứa về bên Cồn Lở. Chị nấu cơm, giết một con gà, nấu cháo, lăng xăng như người ta làm đám. Hàng xóm nghe tin kéo tới, đứng chật sân, nhìn Lộc, xì xào, có người khóc, có người nắm tay anh lắc lắc. Ai cũng nói giống thằng Thắm. Giống y. Cái tai đó. Anh Tuất lái đò cũng tới, ngồi ở góc sân hút thuốc, lâu lâu lại lắc đầu như không tin.
Lúc trời tối hẳn, o Lựu bưng ra một cái đài bán dẫn cũ, mở tin thời tiết như thói quen mỗi tối. Giọng phát thanh viên đều đều, rè rè: một cơn bão đang đi vào vùng biển, dự báo đêm ngày kia đổ bộ vào khu vực các tỉnh Bắc Trung Bộ, gây mưa rất to, nguy cơ lũ trên các sông nhỏ, đề nghị bà con vùng trũng, ven sông chủ động di dời.
O Lựu tắt đài. Chị nhìn ra sông, nơi bóng tối đã nuốt mất bờ lở bên kia.
– Đêm mười bốn. – Chị nói. – Lại đêm mười bốn.
Rồi chị quay sang Lộc, như sực nhớ một chuyện.
– Chiều hôm qua, o ra bến dọn sạp, o thấy bên tê sông có người đàn bà đứng. Đứng ngay mép bờ lở, phía dưới khúc quanh, chỗ bãi lau. Đứng lâu lắm. Nhìn sang bên ni. Nhìn đúng ngay nhà ni. – O Lựu nói. – O tưởng người đi cắt cỏ. Mà ai cắt cỏ mà đứng không vậy, tới tối mịt.
– Bãi lau dưới khúc quanh. – Nghi nhắc lại. – Chỗ người ta tìm thấy thằng Tí.
— Hết chương 16 —

🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe