Chương 5: Con cá khắc trên xà gỗ
Sáng ra, lớp muối mịn Khải rải ở cửa sau kho in đầy dấu chân. Một cặp chân người lớn, bàn chân bè, ngón cái chõi ra, đi vào. Một cặp chân con nít, nhỏ, đi vào. Rồi cặp chân con nít đi ra, chạy, mỗi bước cách nhau gần nửa mét, xéo qua bờ ruộng, lên thẳng đỉnh một đụn muối trắng phía ngoài. Trên đỉnh đụn muối có một dấu bàn tay xoè, chỗ thằng Đực chống tay nhảy xuống.
– Sáng nào nó cũng chạy ra đụn muối tè. – Bà Hai nói, mặt tỉnh rụi. – Bà la hoài. Muối người ta bán.
Út Ngò cười tới chảy nước mắt. Khải đứng quay cận cảnh mấy cái dấu chân, giọng cậu đọc lời bình mà nghe ra cũng có chút buồn cười. Hát ru là gió thổi qua ống nước nứt và một bà nội ru cháu. Dấu chân trên muối là thằng Đực, chín tuổi, mỗi sáng một lần. Kho muối Bàu Ngọt không có ma.
Nghi để Khải quay. Cô đi vào trong kho, tới chỗ đống bao tải, chỗ bà Hai nói hồi đó con mẹ thằng Tí ngủ.
Đêm qua, sau câu nói của bà, không ai ngủ lại được. Bà Hai kể một ít, rồi nói khuya rồi, mai kể tiếp, rồi bế thằng Đực về chòi. Lộc đi ra ngoài đứng một mình tới gần sáng.
Bây giờ bà Hai đi vào sau Nghi, chống cái cào làm gậy. Bà không đợi ai hỏi. Bà cúi xuống chỗ chân cây cột gỗ gần đống bao tải nhất, lấy ngón tay quẹt quẹt mấy lớp muối kết vảy trên thân cột.
– Đây nè.
Trên thân cột, ở độ cao chỉ ngang đầu gối người lớn, ngang mặt một đứa con nít ngồi, có một hình khắc. Ai đó đã dùng một vật nhọn, có lẽ là cây đinh, cào vào gỗ. Một con cá: một đường cong làm lưng, một đường cong làm bụng, chụm lại thành cái đuôi chẻ, một chấm sâu làm mắt. Bên dưới con cá, mấy chữ nguệch ngoạc, chữ cái đầu viết hoa run run: Tí ngủ đây.
Nghi đưa máy ảnh lên chụp. Tay cô không run, nhưng cô phải chụp ba tấm mới được một tấm rõ nét.
Cô đã nhìn thấy con cá này cả trăm lần. Trên cái còi tre, mỗi lần Lộc giơ lên trước ống kính. Một đường cong lưng, một đường cong bụng, cái đuôi chẻ, một chấm mắt.
Nhưng cá thì ai khắc mà chẳng vậy, Nghi tự nhủ. Hai đường cong và một cái chấm. Con nít cũng vẽ được.
– Hồi đó tháng Ba, tháng Tư gì đó. Mùa muối đang rộ. – Bà Hai ngồi xuống cái thùng gỗ, kể. – Con nhỏ đó dắt thằng con tới, hỏi xin làm. Ai trả gạo cũng được. Nói giọng ngoài Nghệ Tĩnh, nặng trịch, phải hỏi tới hỏi lui. Nó xưng là Lịch. Ba mươi mấy tuổi mà nhìn như bốn chục, ốm o. Chủ đồng thấy tội, cho ở trong kho này, làm công nhật, cào muối, gánh muối.
– Còn thằng nhỏ? – Nghi hỏi. Khải đã vào từ lúc nào, đứng ở cửa, máy quay hạ xuống thấp.
– Thằng Tí. Ba bốn tuổi gì đó. Cái chân đầy ghẻ, lở loét. Tối nào con Lịch cũng múc nước muối trong ô ra tắm cho nó, nói nước muối ăn da, mau lành. Nó la quá trời, mà tắm được mấy bữa thì đỡ thiệt. – Bà Hai cười móm. – Mà cái thằng đó lạ lắm. Kêu Tí, nó làm lơ. Kêu năm lần nó không ngó. Còn con mẹ nó hát cái bài đó thì nó nín liền.
Bà đọc lại câu hát, không ngân như hôm qua, chỉ đọc:
– Con ngủ cho say, đò sang bến lở, mẹ đợi bến bồi.
– Bến lở là sao bà? – Út Ngò đứng sau lưng Khải, hỏi khẽ.
– Bến lở là bến bị nước ăn, đất sụt. Bến bồi là bên kia, đất bồi lên. Bà đoán vậy. – Bà Hai nhún vai. – Hồi đó bà hỏi, con Lịch không nói. Nó ít nói. Nó ho suốt đêm, bà nằm bên chòi nghe tiếng ho của nó vọng qua.
Rồi bà kể tới cái chiều thằng Tí đi lạc.
Hôm đó trời lặng gió, nắng chói. Con Lịch đang gánh muối thì quay lại không thấy thằng nhỏ đâu. Đồng muối mấy trăm ô, ô nào cũng giống ô nào, bờ nào cũng giống bờ nào, trắng lóa tới mức người lớn đứng giữa đồng ban trưa còn không nhìn thấy đường. Con Lịch chạy như điên, kêu Tí, Tí. Cả đồng bỏ cào đi kiếm. Tới chạng vạng mới thấy thằng nhỏ ngồi co ro sau một đụn muối ở tuốt góc bên kia, mặt đỏ như tôm luộc vì nắng, môi nứt nẻ, nó không khóc, chỉ ngồi im. Người ta kêu nó, nó không thưa. Có người đi ngang cách nó năm bước mà không thấy, vì nó mặc cái áo trắng, ngồi giữa muối trắng.
– Bữa sau con Lịch ra chặt một khúc tre ở hàng rào kho. Hàng rào hồi đó còn, bây giờ mục hết rồi. – Bà Hai chỉ ra ngoài cửa. – Nó ngồi ngay chỗ thềm kho, cầm con dao nhỏ gọt cả buổi trưa. Gọt thành cái còi. Khắc thêm con cá lên đó. Nó nói chồng nó đi biển, mất ngoài biển, nên nó khắc con cá. Rồi nó dạy thằng nhỏ thổi. Ba tiếng. Nó dặn: đi đâu cũng thổi ba tiếng cho mẹ nghe, mẹ nghe là mẹ biết con còn đó.
Không ai trong kho lên tiếng. Ngoài kia, tiếng cào muối sột soạt.
– Rồi từ bữa đó, cả đồng muối ngày nào cũng nghe thằng Tí thổi còi. Ba tiếng. Nghỉ. Ba tiếng. – Bà Hai cười. – Người ta chọc, nói đồng muối có con chim lạ.
– Giống cái còi của anh Lộc ghê. – Út Ngò buột miệng, rồi quay sang tìm Lộc. – Anh Lộc đâu? Cái con cá trên còi anh cũng giống vầy nè.
Lộc đứng sau cửa kho, ngoài vệt nắng. Nghi không biết anh đứng đó từ lúc nào.
– Còi gì? – Bà Hai nhướng mắt. – Đưa bà coi.
– Dạ, con để ở nhà nghỉ rồi bà. – Lộc đáp. Giọng anh bình thường, bình thường tới mức Nghi thấy rợn. Cô biết rõ là sáng nay anh còn sờ lên túi áo ngực, cái động tác anh làm cả chục lần mỗi ngày. Cái còi đang ở đó, cách bà Hai năm bước.
Bà Hai không hỏi nữa. Bà kể tiếp, giọng chậm lại.
– Ở được chừng một tháng. Rồi có ông cán bộ xã xuống, hỏi giấy tờ, hỏi tạm trú, hỏi thằng nhỏ có giấy khai sinh không, có đi chích ngừa chưa. Không phải bắt bớ gì, hỏi để lo cho nó. Con Lịch dạ dạ, nói mai đưa. Sáng mai bà ra, kho trống trơn. Đồ đạc không còn gì, chỉ còn cái chiếu cói, với cái con cá khắc trên cột đó.
– Bà có biết họ đi đâu không? – Nghi hỏi.
– Biết đâu. Đi về hướng quốc lộ. – Bà Hai đứng dậy, chống cào. – Từ đó người ta mới nói kho có ma. Tại con Lịch đi rồi mà ban đêm ống nước trên mái vẫn hát. Người ta nói hồn nó còn ở đây ru con. Bà nói người ta, nó đâu có chết. Nó đi thôi.
Bà đi ra cửa, dừng lại bên cạnh Lộc. Bà nhìn lên mặt anh, cái nhìn của người già nhìn một đứa trẻ con cao hơn mình hai cái đầu.
– Con giống ai đó. – Bà nói. – Mà bà già rồi, nhìn ai cũng giống ai đó.
Bà đi ra ruộng.
Cả buổi chiều, họ quay thêm cảnh đồng muối, quay bà Hai cào muối, quay thằng Đực trèo lên đụn muối. Khải làm việc nhanh và im lặng. Út Ngò không còn cười như buổi sáng. Còn Lộc thì vẫn dẫn chương trình, vẫn nói, vẫn đứng đúng vị trí, chỉ có điều là mắt anh không nhìn vào ống kính. Anh nhìn qua vai người cầm máy, về phía cái kho.
Tối đó, ở nhà nghỉ trong thị trấn, Lộc dựng phần lời bình. Anh nói anh muốn làm, để Nghi nghỉ. Nghi để anh làm. Cô nằm trên giường, xem lại tấm ảnh con cá trên cột gỗ, phóng to, thu nhỏ.
Hai giờ sáng, cô thức giấc, thấy nệm của Lộc trống.
Cô mặc áo khoác, đi xuống. Bà chủ nhà nghỉ ngủ gục sau quầy. Cửa sắt kéo hé một khe. Chiếc xe máy thứ hai không còn trong sân.
Cô không biết vì sao mình biết anh đi đâu. Cô lấy chiếc xe còn lại, chạy ra quốc lộ rồi rẽ vào bảy cây số đường đất đỏ trong bóng tối, đèn xe rọi lên mấy cái cần vọt giếng như những cánh tay giơ lên trời. Nửa vầng trăng hạ tuần đã lên khỏi rặng sú phía đông, vàng đục như miếng bánh tráng nướng cháy cạnh. Khi cô tới đồng muối, cô thấy chiếc xe của Lộc dựng ở đầu bờ, và thấy anh.
Anh đứng giữa đồng muối. Không đèn. Chỉ có ánh trăng nửa vầng rọi xuống mặt nước mỏng trong các ô, rọi lên các đụn muối trắng, làm cả cánh đồng sáng mờ mờ như một thứ gì đó không thuộc về mặt đất.
Nghi đi tới, chân trượt trên bờ đất trơn. Anh không quay lại.
– Bà Hai nói thằng nhỏ đi lạc ra đây. – Lộc nói, mắt nhìn quanh. – Đứng giữa đây ban trưa, con nít bốn tuổi thấy cái gì, bà biết không? Thấy trắng. Trắng hết. Không có đường về.
– Lộc.
– Bà có biết thằng nhỏ đó không thưa là vì sao không? – Anh nói tiếp, như không nghe cô. – Không phải vì nó sợ. Không phải vì nó mệt. Mà vì người ta kêu cái tên không phải tên nó.
Nghi đứng im. Gió từ biển thổi lên, lạnh ngắt, mặn chát.
– Ông đang nói gì vậy?
Lộc quay lại. Dưới ánh trăng, mặt anh tái, mắt đỏ, nhưng anh cười. Cái cười mệt mỏi chứ không phải cái cười dẫn chương trình.
– Tui nói chuyện kịch bản. – Anh nói. – Câu đó hay không? Mai bà để vô lời bình.
Anh đi ngang qua cô, về chỗ để xe. Nghi đứng lại một mình giữa đồng muối, nhìn về phía cái kho đen sì ở góc đồng. Cô chờ, không biết chờ cái gì. Có lẽ chờ ba tiếng còi. Nhưng chỉ có gió.
Sáng hôm sau, khi Nghi còn đang đánh răng, Khải gõ cửa phòng tắm. Mặt cậu nghiêm như mỗi lần làm hỏng một mạch điện mà chưa biết hỏng ở đâu.
– Bà ra đây. Một mình thôi.
Cậu kéo cô ra ban công, đưa máy tính cho cô coi. Trên màn hình là một vạch sóng âm dài, phía dưới chạy một dãy số giờ phút giây.
– Tệp thu từ cái micro kẹp cổ áo Lộc hôm ở chỗ ông Bảy Lực. Micro đó thu riêng vô máy thu âm của tui, chạy một mạch từ lúc kẹp lên tới lúc tháo ra. – Khải chỉ. – Máy thu nào cũng ghi giờ vô từng giây. Hôm qua tui mở ra lấy tiếng gió làm nền, mới thấy chỗ này.
Cậu chỉ vào một điểm trên dãy số. Giờ phút giây đang chạy đều, tới đó thì nhảy cóc.
– Bốn mươi giây, ngay sau đoạn ông Bảy Lực nhắm mắt nói "y chang". Lúc đó máy quay tắt rồi, tui tắt. Nhưng cái micro vẫn còn thu.
– Rồi trong bốn mươi giây đó có gì?
Khải nhìn cô. Rồi cậu nhìn qua vai cô, vào trong phòng, nơi Lộc đang ngủ hay giả bộ ngủ.
– Không biết. Tệp chép trên máy tính tui đã bị cắt đúng đoạn đó, rồi lưu đè. Tệp gốc trong thẻ nhớ của máy thu thì bị xoá hẳn. – Cậu nói. – Máy tính tui có mật khẩu. Trừ tui ra, chỉ có một người biết.
Điện thoại trong túi Nghi rung lên. Thư mới. Người nghe ở bến đò.
— Hết chương 5 —

🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe