AI Truyện
Ba nốt còi tre

🕯️ Truyện ma kinh dị

Hai bờ sông Rào Mây

Ba nốt còi tre · Chương 13/20 · Sáng tác: AI Truyện

📖 9 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 13: Hai bờ sông Rào Mây

– Bả nói đừng ghé thì càng phải ghé. – Khải nói.

– Bả dẫn mình suốt từ cột mười bảy tới đây. Chặng nào cũng đúng. – Út Ngò cãi. – Bả nói đừng thì chắc có lý do.

– Lý do là ở Cồn Lở có cái gì đó bả không muốn mình thấy.

– Thì để bả giữ. Ai mà không có cái muốn giấu.

Hai đứa cãi nhau ở quán bún bò đầu ngõ nhà nghỉ, sáng sớm, mưa lâm râm. Tô bún của Khải nguội lạnh, chưa đụng đũa. Út Ngò thì ăn hết từ lâu, đang cầm cái muỗng gõ gõ vô thành tô. Nghi ngồi giữa, không bênh ai, vì cô thấy cả hai cùng đúng.

Lộc ngồi đầu bàn, cái còi với chiếc dép nhỏ đặt trước mặt, cạnh chén sa tế. Anh để hai đứa cãi cho tới khi hết hơi.

– Tui ghé Cồn Lở. – Anh nói.

Út Ngò mở miệng, rồi ngậm lại.

– Bả muốn tui qua bên kia sông. Tui sẽ qua. – Lộc nói. – Mà bả là người ở Cồn Lở. Bả bỏ Cồn Lở đi mười chín năm, bả đi bộ từ Huế vô tới Sài Gòn với một đứa nhỏ không chịu thưa cái tên bả gọi. Cái lý do bả bỏ đi nằm ở Cồn Lở. Tui không biết lý do đó thì tui qua sông cũng không hiểu được gì.

Anh nhìn Út Ngò.

– Em nói đúng, ai cũng có cái muốn giấu. Mà cái này không phải chỉ của bả. Cái này là của tui nữa.

Út Ngò cúi đầu. Rồi nó gật.

Chuyến xe khách đêm từ Huế ra Hà Tĩnh chạy gần tám tiếng. Xe giường nằm, hai tầng, đèn tím, máy lạnh rít. Út Ngò ngủ được, ôm cái túi vải. Khải đeo tai nghe nằm im, mắt mở thao láo. Nghi nằm ở giường trên, sát cửa sổ, nhìn ra ngoài. Xe chạy qua những thị trấn ngủ say, những cánh đồng đen thẫm, những con đường làng chạy cắt ngang quốc lộ có cột đèn vàng đứng lẻ loi. Có đoạn chạy sát biển, nghe được tiếng sóng qua lớp kính. Có đoạn qua đèo, xe ì ạch leo dốc.

Cô nghĩ tới người đàn bà mười tám năm trước đi ngược con đường này. Không có xe giường nằm, không có máy lạnh. Đi bộ, ôm một đứa nhỏ trên hông, đi nhờ xe được đoạn nào hay đoạn đó. Ngủ dưới mái hiên ga. Ngủ trong ống cống. Lội ra sông vì một chiếc dép.

Lộc nằm giường dưới, ngay bên dưới cô. Gần ba giờ sáng, cô nghe tiếng anh nói nhỏ, không biết với ai, có thể với chính mình:

– Sẻ.

Rồi im.

Xe tới thành phố lúc trời vừa rạng, mưa đã ngưng, trời xám đục. Họ thuê hai chiếc xe máy ở một tiệm gần bến, chạy về phía tây nam theo con đường tỉnh, rồi rẽ vào đường xã, rồi đường liên thôn. Đồng lúa vừa gặt xong, gốc rạ phơi trắng. Những ngôi nhà mái bằng hai tầng, tầng trên có lan can rộng, Khải nói là để tránh lũ, mùa nước lên thì cả nhà dọn lên đó ở. Trên tường nhiều nhà còn vạch sơn đỏ ghi năm lũ, ghi mực nước, có vạch cao quá đầu người.

Chiều, họ hỏi được đường ra Cồn Lở.

Con đường đất đỏ chạy men theo con đê, rồi xuống dốc, mở ra một bãi đất cát rộng ven sông. Sông Rào Mây không lớn, chỉ chừng hai trăm mét, nhưng nước chảy xiết, màu đục ngầu vì trên nguồn mưa mấy hôm nay. Bờ bên này là Cồn Lở. Đúng như cái tên, mép bờ bị nước ăn vào thành từng vạt dựng đứng, đất cát sụt xuống còn trơ rễ tre. Nhà cửa lui hết vào phía trong, cách mép sông cả trăm mét, nhà nào cũng mới, mái tôn mới, tường còn chưa kịp rêu. Chỉ có mấy cái nền nhà cũ sát bờ, gạch vỡ, cỏ mọc, không ai xây lại.

Bờ bên kia thì khác. Đất bồi, bằng phẳng, xanh rì bãi ngô bãi đậu. Một con dốc đá dẫn từ mặt nước lên một cái bến nhỏ. Có một chiếc đò máy đang đậu ở đó, một người đàn ông đội nón cối ngồi hút thuốc trên mũi đò. Phía sau bến là một làng, mái ngói lẫn mái tôn, khói bếp chiều bay lên chậm chạp.

Và ở đầu bến, đứng riêng một mình, cao hơn mọi mái nhà, là một cây gạo.

Thân cây xám bạc, xù xì, to tới hai người ôm. Cành chĩa ngang ra như những cánh tay, rồi vươn thẳng lên. Mùa này không có hoa, chỉ có lá xanh thưa thớt. Nhưng hình dáng của nó, cái thân, mấy nhánh chĩa lên, đứng cạnh bến, cạnh sông, cạnh con đò…

Lộc dừng xe lại giữa đường. Anh không tắt máy. Anh ngồi trên yên, hai tay vẫn nắm tay lái, nhìn qua sông.

– Cái cây trong cống. – Anh nói.

Nghi ngồi sau anh, nhìn theo. Cô mở điện thoại, tìm tấm ảnh hình vẽ trên vách ống cống đèo Mũi Kiến. Ngôi nhà vuông, mái tam giác. Cái cây có mấy nhánh chĩa lên, trên đầu nhánh có mấy chấm tròn. Mấy đường lượn sóng. Con đò. Người đứng một mình bờ bên kia giang tay.

Cô giơ điện thoại lên, so với cảnh trước mặt. Cái cây gạo. Cái bến. Con đò.

– Mấy chấm tròn trên đầu nhánh. – Khải chạy xe tới cạnh, dừng lại. – Là hoa gạo. Gạo trổ hoa đỏ trên cành trụi lá, tháng Hai tháng Ba. Con nít vẽ cây gạo thì vẽ hoa.

– Mà đứa nhỏ đó đâu có thấy hoa gạo. – Út Ngò nói. – Lũ tháng Tám. Nó đi từ tháng Tám. Trước Tết nó ngồi trong cống đèo.

– Nó thấy từ trước. – Nghi nói. – Mùa xuân năm đó. Năm nó ba tuổi. Hoặc mùa xuân năm trước nữa.

Không ai nói ra cái câu tiếp theo, câu nằm sẵn ở đầu lưỡi cả bốn người. Đứa nhỏ đó vẽ bên kia sông. Vẽ cây gạo bên bờ Đò Trai. Không vẽ Cồn Lở.

Lộc tắt máy xe. Anh dựng xe, đi xuống mép bờ lở, đứng ngay trên vạt đất dựng đứng, nhìn qua. Gió sông thổi tốc tóc anh. Bên kia, người đàn ông trên đò đứng dậy, búng tàn thuốc xuống nước, nhìn qua bên này một chút rồi lại ngồi xuống.

– Qua luôn không? – Khải hỏi.

– Mai. – Lộc nói. – Hôm nay ở Cồn Lở.

Họ hỏi xin trọ ở một nhà gần đê, nhà bà Cửu, một bà cụ tám mươi hai tuổi ở với vợ chồng đứa cháu nội. Bà nhỏ thó, lưng còng, đôi mắt đục mà sáng, nói giọng Hà Tĩnh nặng tới mức Út Ngò phải nhờ Nghi dịch lại một nửa. Nhà bà là nhà hai tầng mái bằng, tầng trên trống trơn, chỉ có mấy tấm chiếu, mấy cái thùng nhựa đựng gạo, đựng nước, một cái bếp ga mini. Đồ dùng mùa lũ.

– Nhà ni có cái tầng trên là nhờ Nhà nước với người ta góp sau năm lũ đó đó. – Bà Cửu nói, đưa tay chỉ lên. – Chớ trước đây toàn nhà tranh, nhà ngói thấp lè tè. Nước lên ban đêm, không chạy kịp, trèo lên nóc. Năm đó xóm ni mất ba người.

Nghi nhìn Lộc. Anh đang cúi xuống cởi dây giày, tay ngừng lại.

– Mất ba người là ai bà? – Nghi hỏi.

Bà Cửu không trả lời ngay. Bà nhìn từng đứa, đôi mắt đục dừng lại ở cái máy quay Khải đang cầm trên tay, tắt.

– Bây đi làm phim ma phải không? – Bà hỏi. – Đứa cháu nội tui nó coi trên điện thoại, nó nói có mấy đứa quay phim ma đi dọc đường tàu ra tới Huế.

– Dạ. – Út Ngò nói. – Mà tụi con không quay ở đây. Tụi con đi tìm người.

– Tìm ai?

Lộc đứng dậy.

– Dạ, tụi con tìm bà Phan Thị Lịch. Người xóm ni. – Anh nói, dùng chữ "ni" một cách vụng về, như học trò mới học tiếng.

Bà Cửu im lặng. Ngoài sân, con gà mái cục tác. Đứa chắt của bà chạy ngang, la một câu gì đó, rồi chạy mất.

– Con Lịch. – Bà Cửu nói. Giọng bà khàn hẳn đi. – Răng mà còn ai nhớ con Lịch.

Bà đứng dậy, chống tay lên đầu gối, đi ra cửa sau, đứng nhìn về phía con đê. Phía sau đê là bãi cát trắng. Trên bãi cát, xa xa, có những ụ đất nhỏ, những tấm bia xi măng thấp, mấy cây phi lao xơ xác. Nghĩa địa cát.

– Mai bà dẫn đi. – Bà nói, không quay lại. – Chiều rồi. Bà già ra nghĩa địa giờ ni, khổ lắm.

Bữa cơm tối có cá rô kho tộ, canh mướp nấu tôm, dĩa cà pháo chấm tương. Bà Cửu không nhắc tới con Lịch nữa. Bà hỏi Út Ngò quê đâu, nghe nói Cao Lãnh thì bà nói tưởng tượng không ra, xa quá. Đứa cháu dâu múc thêm cơm, hỏi tụi nhỏ có sợ ma không, rồi cười.

Đêm đó, bốn đứa nằm trên tầng hai nhà bà Cửu, trên mấy tấm chiếu cói trải sát nhau. Cửa sổ tầng hai không có kính, chỉ có song sắt, mở ra phía đê. Trăng mười đã ngả về phía tây, hơn nửa vầng, sáng trắng. Gió sông thổi vào lạnh ngắt. Ngoài kia, tiếng nước chảy xiết, đều đều, không lúc nào ngừng.

Nghi không ngủ được. Cô nằm nghiêng nhìn ra cửa sổ, nhìn bãi cát trắng phía sau đê, những ụ đất nhỏ, những tấm bia thấp dưới trăng.

Gần mười một giờ, giữa bãi cát, có một đốm lửa nhỏ.

Không phải đèn pin. Đỏ, nhỏ, lập loè. Ba đốm. Như ba nén nhang ai vừa thắp. Bên cạnh đó, một bóng người ngồi xổm, lưng còng, đầu trùm khăn.

Nghi chồm dậy, lay vai Lộc. Anh đã thức. Anh cũng đang nhìn.

Hai người nhìn nhau trong bóng tối. Rồi Lộc ngồi dậy, với cái áo khoác. Khải nghe động cũng bật dậy, lay Út Ngò. Không ai nói một tiếng.

Khi bốn người chạy qua khỏi con đê, chân lún trong cát, thở hổn hển, ba đốm nhang vẫn còn cháy trên một nấm mộ nhỏ ở gần hàng phi lao. Nhưng bóng người ngồi bên cạnh đã không còn. Chỉ còn trên mặt cát một hàng dấu chân dẫn ra phía bờ sông, rồi mất ở chỗ cỏ mọc.

Và trên nấm mộ, cạnh lư hương, có một gói giấy tập học trò, gói hai lần, còn ấm.

— Hết chương 13 —

Mục lục Ba nốt còi tre

  1. 1Ba nốt còi tre9 phút
  2. 2Cột cây số trên đồi cát11 phút đọc
  3. 3Dấu tay trên tấm bạt9 phút đọc
  4. 4Kho muối biết hát ru10 phút đọc
  5. 5Con cá khắc trên xà gỗ10 phút đọc
  6. 6Cá khô trước ngưỡng cửa10 phút đọc
  7. 7Những giây bị cắt9 phút đọc
  8. 8Tờ giấy ở bến xe9 phút đọc
  9. 9Tiếng khóc trong ống cống đèo9 phút đọc
  10. 10Ga xép không người gác10 phút đọc
  11. 11Tấm ảnh chụp bằng điện thoại cũ9 phút đọc
  12. 12Bến đò mùa nước bạc9 phút đọc
  13. 13Hai bờ sông Rào Mây9 phút đọc
  14. 14Ngôi mộ cát ở Cồn Lở9 phút đọc
  15. 15Chuyến đò ngang sang Đò Trai9 phút đọc
  16. 16Bàn thờ bên kia sông9 phút đọc
  17. 17Đêm mười bốn9 phút đọc
  18. 18Ba nốt dưới nước10 phút đọc
  19. 19Bánh Trung Thu cho thằng Sẻ9 phút đọc
  20. 20Tệp âm thanh không tên9 phút đọc

Về truyện này

Ba nốt còi tre là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Tín của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →