AI Truyện
Ba nốt còi tre

🕯️ Truyện ma kinh dị

Tệp âm thanh không tên

Ba nốt còi tre · Chương 20/20 · Sáng tác: AI Truyện

📖 9 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 20: Tệp âm thanh không tên

Cuộc gọi tới lúc Lộc đang đứng ở đầu hẻm, phủi bụi trên tấm bạt xanh của xe khoai.

Đầu tháng Mười, Sài Gòn bắt đầu có những buổi chiều mưa dứt sớm, trời trong lại, gió mát hiếm hoi. Cái xe khoai vẫn đứng đó, chỗ cũ, cạnh tiệm sửa điện thoại. Bà Tám không cho ai dời đi. Cái lò than tổ ong úp ngược. Cái ghế nhựa thấp xếp gọn dưới gầm xe. Út Ngò tuần nào cũng ra lau một lần, nói để dì về thấy còn sạch.

Lộc nghe máy, đứng im. Ba người kia đang ngồi trước hiên nhà bà Tám, thấy anh đứng im thì cũng im theo. Út Ngò buông cái chổi.

Anh nghe chừng một phút. Nói "dạ" hai lần, "cảm ơn chị" một lần. Rồi anh cúp máy, quay lại.

– Phòng xét nghiệm. – Anh nói. – Kết quả gửi về nhà o rồi. Họ gọi báo trước. Quan hệ cô cháu ruột.

Không ai hò reo. Không cần. Từ cái buổi chiều ở bến Đò Trai, từ cái tấm ảnh trên bàn thờ, từ con chim đốt bị lệch đầu dưới đế dép, không ai trong nhóm còn nghi. Tờ kết quả chỉ là một tờ giấy để đi làm giấy tờ. Nhưng Nghi thấy Lộc đứng đó, ngay chỗ người đàn bà quàng khăn len từng ngồi suốt mấy tháng trời, cầm cái điện thoại trên tay, và cô biết với anh nó không chỉ là một tờ giấy.

Anh bấm gọi ra Hà Tĩnh. O Lựu bắt máy liền, như đã cầm điện thoại chờ sẵn. Anh nói được chữ "o" thì đầu dây bên kia đã khóc.

Sau Trung Thu, ông Sáng với bà Mơ đã ra Đò Trai. Hai ông bà đi xe khách đêm, mười mấy tiếng, ông Sáng say xe ói hai lần, bà Mơ mang theo một thùng bánh pía với hai con khô mực Vũng Tàu. Họ ở nhà o Lựu ba ngày. Bốn đứa còn ở lại Đò Trai mấy ngày đó. Không ai cầm máy quay, chỉ có Lộc chụp vài tấm bằng điện thoại, gửi vào nhóm. Ảnh bà Mơ với o Lựu ngồi lặt rau dưới giàn mướp. Ảnh ông Sáng đứng dưới gốc cây gạo, nhìn qua sông. Ảnh ba người lớn đứng trước bàn thờ, thắp nhang cho anh Thắm, chị Nguyệt, ông bà nội.

Tấm ảnh thằng nhỏ trên lưng ngựa nhựa đã được o Lựu gỡ xuống khỏi bàn thờ, ngay buổi sáng trước khi ông bà Lã tới. O lau sạch, thay khung mới, treo lên vách ở gian bên, cạnh tấm lịch. Lộc chụp cái vách đó, gửi vào nhóm với một dòng: "O nói người sống thì không ở trên bàn thờ."

Còn cái tên, Lộc nói anh sẽ giữ cả hai. Ở Vũng Tàu anh là Lộc. Bên kia sông Rào Mây anh là Sẻ. Giấy tờ thế nào thì đi hỏi người ta làm cho đúng, từ từ.

Bà Lịch vẫn còn nằm ở bệnh viện tỉnh. Lao phổi, bác sĩ nói, để lâu quá, phải điều trị dài, nhưng chữa được. Xã làm lại giấy tờ tùy thân cho bà. Công an vẫn đang xác minh, lấy lời khai thêm của ông Bảy Lực, của bà Hai, của ôn Thiệt, của ông Ngạn qua công an các nơi. Nghi không biết rồi chuyện sẽ ra sao, và cô không cố đoán. O Lựu có viết một lá đơn, kể lại chuyện từ phía nhà mình, gửi lên công an xã. O không kể với Lộc trong đơn viết gì. Bà Cửu thì ngày nào cũng nhờ đứa cháu nội chở lên bệnh viện, mang theo cháo.

Phúc Còi mang cái bì thư mười tám triệu qua nhà bà Tám, đưa tận tay Lộc như lời dặn, hai tay, mặt nghiêm như học trò nộp bài. Lộc đếm từng xấp, cột lại y nguyên từng dây thun. Rồi anh gửi về Hà Tĩnh, nhờ o Lựu mang lên bệnh viện, đóng tiền thuốc cho bà Lịch.

– Tiền của dì thì cho dì. – Anh nói với Phúc. – Mà em giữ giùm anh cái hộp thư đó nha. Đừng xoá.

Phúc gật đầu lia lịa.

Tối hôm đó Út Ngò gọi điện ra bệnh viện, nhờ cô điều dưỡng cầm máy cho bà Lịch. Nó kể chuyện hẻm, chuyện con mèo bà Tám, chuyện tiệm photo đổi chủ, chuyện cái xe khoai tuần nào nó cũng lau. Bà Lịch nghe, lâu lâu ừ một tiếng, lâu lâu ho. Gần cúp máy, bà hỏi cái lò than tổ ong còn không, có ai lấy mất không. Út Ngò nói còn, úp ngược dưới gầm xe, bà Tám canh kỹ lắm.

– Rứa thì cho con Ngò. – Bà nói. – Cái xe, cái lò. Con muốn nướng khoai bán cho tụi sinh viên thì nướng. Nướng thì đừng để lửa lớn, khoai cháy vỏ mà ruột sống. Lửa riu riu, trở hoài tay.

Út Ngò cười, vừa cười vừa chùi nước mắt, nói con học thiết kế mà dì, con đâu có biết nướng khoai. Bà Lịch nói không biết thì học. Ngày xưa dì cũng đâu có biết.

Trước khi rời Hà Tĩnh, Lộc vào bệnh viện thăm bà Lịch một lần nữa. Nghi đứng ở cửa phòng, như hôm ở trạm y tế. Bà Lịch đã khá hơn, ngồi dậy được, mặt bớt xám. Cổ bà không quàng khăn. Lộc ngồi một lúc, không nói gì nhiều. Rồi anh lấy cái còi tre trong túi ra, đặt vào tay bà.

Bà nhìn cái còi, nhìn con cá bà khắc mười tám năm trước bằng một con dao nhỏ trên thềm kho muối.

– Dì giữ. – Lộc nói. – Hồi đó dì dạy con thổi cho dì biết con còn đó. Giờ con không cần thổi nữa. Dì giữ đi. Để dì biết.

Bà Lịch nắm cái còi trong lòng bàn tay, áp lên ngực. Bà không khóc. Bà gật đầu, một cái, chậm.

Nhóm làm tập cuối của loạt phim ngay khi về lại Sài Gòn. Bốn đứa ngồi ở phòng khách nhà bà Tám mấy đêm liền, cãi nhau, xoá, làm lại. Tập phim lên kênh đúng tối hôm có cuộc gọi của phòng xét nghiệm. Cuối cùng tập phim dài mười hai phút, tên là "Những người dọc đường". Ông Bảy Lực vá ruột xe. Bà Hai cào muối, thằng Đực trèo lên đụn muối. Cô Ba Thâu lật cá dưới cái dù bạc màu. Ông Ròn cho dê ăn. Ông Ngạn thắp đèn dầu trong ga xép. Ôn Thiệt đan lưới trên mũi ghe. Mỗi người nói một câu, câu họ chọn, đã đồng ý cho đăng. Không có cái còi. Không có chiếc dép. Không có bãi lau. Không có Lộc, ngoài cái giọng dẫn ở đầu và cuối.

Lời bình cuối là của Nghi. Cô viết đúng một câu: "Chuyến này tụi mình đi coi bảy chuyện ma, và chuyện nào đi tới cùng cũng gặp một người tử tế."

Người xem hỏi rất nhiều. Sao chặng nào cũng có một người đàn bà với đứa nhỏ. Người gửi thư là ai. Sao tập cuối không giải thích. Có người đoán gần đúng. Có người đoán sai hoàn toàn. Nghi đọc hết, không trả lời câu nào. Nhà tài trợ gửi thư lần nữa, lần này đề nghị gấp ba. Nghi cảm ơn, không nhận.

Ba nốt còi mở đầu tập phim là đoạn thu sẵn từ hai năm trước. Lộc nói cứ để vậy, cho tới khi nào người xem quên.

Đêm đó, đêm tập cuối lên kênh, Khải ngồi một mình ở phòng khách khi cả nhà đã ngủ.

Cậu cắm cái máy thu âm vào máy tính. Từ hôm ở bãi lau tới giờ, gần hai tuần, cậu chưa mở nó ra lần nào. Cậu đã chép tệp ra, cất vào ổ cứng riêng, rồi để đó. Cậu nói với mình là bận. Cậu biết là không phải.

Tệp âm thanh dài hơn hai tiếng. Cậu kéo tới gần cuối, chỗ vạch sóng dày đặc như một bãi lau.

Tiếng mưa. Tiếng gió. Tiếng chính cậu gào "Kéo!". Tiếng thở hồng hộc. Tiếng Út Ngò la. Tiếng nước, dày đặc, như một bức tường.

Rồi ba nốt.

Trầm, bổng, trầm.

Rõ, sạch, nổi lên trên tiếng mưa như một sợi chỉ trắng trên vải đen. Cậu tua lại, nghe lần nữa. Lần nữa.

Cậu mở một tệp khác: đoạn thu tiếng còi mở đầu từ hai năm trước, ở quán chè trước cổng trường, cái lần đầu tiên Lộc thổi chơi. Cậu đặt hai vạch sóng chồng lên nhau. Cậu đo cao độ từng nốt, đo độ dài, đo cái chỗ hơi bị rè ở đầu nốt bổng, chỗ mà cậu biết là do một vết nứt nhỏ xíu ở thân tre gần lỗ thứ hai.

Khớp. Từng chỗ. Kể cả vết rè.

Ở cái giây đó, cái còi nằm ở đâu, cậu biết rõ. Trong túi quần của Lộc, dưới lớp áo phao, ngâm trong nước sông đục ngầu. Hai tay Lộc lúc đó, một tay nắm dây, một tay ôm người. Cậu nhìn thấy bằng chính mắt mình, dưới ánh đèn đội đầu. Một cái còi tre ngâm nước thì không thổi ra tiếng, mà có thổi ra thì cũng không trong được như vậy.

Rồi cậu mở thêm một tệp nữa. Tệp thu ở miệng cống đèo Mũi Kiến phía hạ nguồn, đúng phía tiếng còi vọng ra, lúc cái còi đang nằm trong túi áo khoác kéo kín của Nghi. Chồng lên.

Khớp.

Khải tháo tai nghe ra, đặt lên bàn. Căn phòng khách im phăng phắc. Ngoài hẻm, đèn đường vàng đục chiếu xuống cái xe khoai phủ bạt xanh. Đâu đó có tiếng một chiếc xe máy chạy ngang, rồi xa dần. Con mèo nhà bà Tám nằm trên bậc thềm, mắt mở, nhìn vào bóng tối cuối hẻm.

Cậu ngồi rất lâu. Rồi cậu nhớ tới cái đêm ở cột cây số mười bảy, con mèo vằn trên đỉnh cột, cái câu cậu nói vô máy quay: thằng nhỏ trên cột mười bảy là một con mèo, một cái bóng, và mười tám năm mấy ông tài xế buồn ngủ. Cậu nhớ ông Bảy Lực dưới tấm bạt xanh: ma thì dễ kể hơn, ma thì không ai hỏi mày đã làm gì.

Cậu không biết ba nốt còi này là gì. Cậu không có câu nào để nói vô máy quay về nó. Có lẽ là chim. Có lẽ là gió. Có lẽ là một cái gì đó mà máy thu của phòng thí nghiệm khoa điện tử không được làm ra để hiểu.

Cậu bấm chuột phải vào tệp âm thanh, chọn đổi tên. Con trỏ nhấp nháy trong ô trống.

Cậu gõ một chữ. Tí.

Rồi cậu lưu nó vào một thư mục không đặt tên, trên cái ổ cứng chỉ mình cậu có, tắt máy, và ngồi thêm một lúc trong bóng tối, nghe tiếng thở đều đều của ba người đang ngủ trong căn nhà nhỏ cuối hẻm, cho tới khi trời bên ngoài chuyển từ đen sang xám.

— Hết —

Mục lục Ba nốt còi tre

  1. 1Ba nốt còi tre9 phút
  2. 2Cột cây số trên đồi cát11 phút đọc
  3. 3Dấu tay trên tấm bạt9 phút đọc
  4. 4Kho muối biết hát ru10 phút đọc
  5. 5Con cá khắc trên xà gỗ10 phút đọc
  6. 6Cá khô trước ngưỡng cửa10 phút đọc
  7. 7Những giây bị cắt9 phút đọc
  8. 8Tờ giấy ở bến xe9 phút đọc
  9. 9Tiếng khóc trong ống cống đèo9 phút đọc
  10. 10Ga xép không người gác10 phút đọc
  11. 11Tấm ảnh chụp bằng điện thoại cũ9 phút đọc
  12. 12Bến đò mùa nước bạc9 phút đọc
  13. 13Hai bờ sông Rào Mây9 phút đọc
  14. 14Ngôi mộ cát ở Cồn Lở9 phút đọc
  15. 15Chuyến đò ngang sang Đò Trai9 phút đọc
  16. 16Bàn thờ bên kia sông9 phút đọc
  17. 17Đêm mười bốn9 phút đọc
  18. 18Ba nốt dưới nước10 phút đọc
  19. 19Bánh Trung Thu cho thằng Sẻ9 phút đọc
  20. 20Tệp âm thanh không tên9 phút đọc

Về truyện này

Ba nốt còi tre là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Tín của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →