AI Truyện
Ba nốt còi tre

🕯️ Truyện ma kinh dị

Bánh Trung Thu cho thằng Sẻ

Ba nốt còi tre · Chương 19/20 · Sáng tác: AI Truyện

📖 9 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 19: Bánh Trung Thu cho thằng Sẻ

– Cái giường tre trôi tới đập vô đầu hồi nhà tui lúc gần trưa. – Bà Lịch nói. – Nước còn ngập tới ngực. Tui đang ngồi trên nóc. Tui nghe tiếng con nít khóc.

Sáng mười lăm tháng Tám, bão đã qua. Ngoài cửa sổ trạm y tế, trời trong vắt như vừa được ai rửa, cành cây gãy nằm ngổn ngang trong sân, nước dưới ruộng đỏ quạch. Xe cấp cứu của bệnh viện tỉnh hẹn mười giờ mới tới được, vì đoạn đường dưới chân đê còn ngập. Bà Lịch ngồi dựa lưng vào thành giường sắt, cái chăn len xanh đắp tới ngực, hai bàn tay ốm nhom đặt trên mép chăn. Lộc ngồi trên cái ghế đẩu cạnh giường. Út Ngò ngồi dưới chân giường. Nghi đứng ở cửa. Khải ngồi ngoài hiên, cái máy quay để trong túi, chưa từng lấy ra.

Bà kể chậm, nhiều lúc dừng lại để ho. Không ai giục.

– Tui trèo xuống, lội ra. Thằng nhỏ bị buộc trên cái giường bằng cái xà rông, buộc chặt lắm, buộc kiểu người lớn buộc cho con khỏi rớt. Nó khóc khan cả tiếng. Ướt, lạnh, mà sống. – Bà nhìn xuống hai bàn tay mình. – Tui cởi dây ra, bồng nó lên. Nó ôm cổ tui. Nó kêu "o". Tui nghe ra "mạ".

Bà ngưng một lúc lâu.

– Không phải. Tui nghe ra "o". Tui biết là "o". Mà tui nói với mình là nó kêu "mạ". Tui nói với mình là trời trả thằng Tí cho tui. Đêm qua trời lấy, trưa nay trời trả.

Bà kể ba ngày trên gác lửng. Hàng xóm gõ cửa, đưa cơm, gọi tên bà. Bà bịt miệng thằng nhỏ, thì thầm vào tai nó: suỵt, đừng khóc, người ta bắt. Lộc nghe tới câu đó thì nhắm mắt lại. Nghi biết anh đang nghe lại cái giọng mấy hôm trước anh tưởng mình tự vẽ ra dưới cây xà tre mục.

– Tui biết. – Bà Lịch nói. – Tui biết từ bữa đầu. Cái tai nó vểnh, thằng Tí tai cụp. Cái dép nó có con chim, dép thằng Tí trơn. Nó không thưa tên Tí. Tui biết hết. Mà tui không chịu biết.

Đêm thứ ba, bà ôm thằng nhỏ trốn đi. Đi về phía nam, theo quốc lộ. Bà nói bà không có nghĩ gì, chỉ nghĩ đi, đi tới chỗ đông người, chỗ không ai hỏi.

– Ở Huế, tui lội ra sông lượm chiếc dép. – Bà nói. – Người ta tưởng tui muốn chết. Tui không muốn chết. Tui chỉ nghĩ cái dép đó có con chim, mất cái dép là mất con chim, mất con chim là… – Bà lắc đầu. – Tui không biết tui nghĩ gì. Tui khai tên nó là Tí. Tui khai với cô y sĩ, mà như khai với trời.

Ở chòi gác chắn ga Phú Cang, thằng nhỏ hết sốt, chỉ vào ngực nói "Sẻ". Bà nói lúc đó bà mới thấy mình như người vừa tỉnh ngủ. Nó có tên. Nó có nhà. Nó có người đang kiếm. Mà bà đã đi xa quá rồi, đã nói dối quá nhiều người rồi.

– Tui sợ. – Bà nói. – Tui sợ ở tù. Mà sợ nhất là đem nó về, rồi trắng tay. Mất thằng Tí một lần rồi. Tui không chịu nổi mất lần hai.

Tháng Tư ở kho muối, thằng nhỏ đi lạc giữa đồng muối trắng, bà chạy như điên cả buổi chiều, kêu Tí, Tí. Nó không thưa. Hôm sau bà ngồi gọt cái còi, khắc con cá vì chồng bà đi biển. Bà dạy nó thổi ba tiếng.

– Tui không dạy nó thưa tên Tí nữa. – Bà nói. – Tui dạy nó thổi. Thổi thì tui biết nó còn đó. Khỏi cần tên.

Bà ho từ hồi ở đèo. Ở xóm chài, ở kho muối, bà giấu. Ra tới quốc lộ đồi cát thì bà ho ra máu, biết mình không đi nổi bao lâu nữa. Bà nghĩ tới chuyện mình chết ở một gốc cây nào đó dọc đường, thằng nhỏ ngồi bên cạnh, không ai biết nó là ai.

– Tới bến xe trong Sài Gòn, tui mua cho nó củ khoai nướng. Tui lấy tờ giấy tập lượm được gói lại, nhét vô túi áo nó. Tui để cái còi vô tay nó. Tui dặn: con ngồi đây, có ai lại thì thổi cho người ta nghe. – Giọng bà vỡ ra. – Rồi tui đi ra góc bên kia, đứng sau cột. Tui đứng từ sáng tới chiều. Nó ngồi im. Nó không khóc. Có lúc nó thổi còi, ba tiếng, rồi ngó quanh kiếm tui. Tui đứng sau cột, cắn vô tay cho khỏi bật ra tiếng. Tới chiều có ông xe ôm lại hỏi, rồi ông bảo vệ. Họ dắt nó đi. Tui đứng nhìn tới khi không thấy nữa.

Út Ngò khóc không ra tiếng, hai tay ôm lấy bàn chân bà qua lớp chăn.

Mười mấy năm sau đó, bà chữa bệnh được một thời gian ở một trạm từ thiện, rồi bỏ dở vì không có giấy tờ, vì sợ người ta hỏi. Bà làm giúp việc, bán vé số, bán khoai, quanh quẩn mấy khu công nghiệp sát Sài Gòn. Bà dành dụm từng đồng, không biết để làm gì. Chỉ nghĩ có ngày.

Cuối năm ngoái, ở một quán cơm bình dân, cái điện thoại của thằng nhỏ phụ quán đang phát một đoạn phim. Ba nốt còi. Trầm, bổng, trầm.

– Tui làm rớt cái muỗng. – Bà nói, và lần đầu tiên trong cả buổi sáng, bà gần như cười. – Thằng nhỏ phụ quán tưởng tui trúng gió.

Bà xin coi lại. Thấy cái còi. Thấy con cá. Thấy cái tai vểnh. Bà nhờ người coi hết các tập, nhờ người ta tìm ra trường, ra con hẻm có trong một tập phim cũ. Sau Tết, bà kéo xe khoai tới đầu hẻm.

– Gần bảy tháng. – Lộc nói. Đó là câu đầu tiên anh nói từ lúc bà bắt đầu kể. – Ngày nào con cũng đi ngang.

– Ngày nào cũng thấy. – Bà gật. – Đủ rồi. Tui tính vậy là đủ rồi.

– Vậy sao dì gửi thư?

Bà nhìn anh, không nói gì.

– Tại cái đêm rằm tháng Bảy. – Bà nói. – Tụi con đi coi ma về, ngang qua xe khoai, con Ngò kể với dì: ông già đếm bậc cầu thang cho khỏi quên mình ở tầng mấy. Con thì dắt xe đi ngang, không ngó dì. Dì ngồi đó, nghĩ: thằng Sẻ cũng không biết mình ở tầng mấy. Nó không biết nó tên gì, nhà ở đâu, ai buộc nó lên cái giường. Mà dì thì biết. Dì biết mà dì giữ.

Bà ho một tràng. Út Ngò đưa ly nước, bà uống một ngụm.

– Dì không dám nói thẳng. Dì sợ con ghét. Dì sợ công an. Dì sợ con thấy dì là đứa ăn cắp con người ta. Nên dì nghĩ: dẫn nó đi lại con đường đó. Đi ngược. Chỗ nào có người tốt với hai mẹ con thì dẫn nó tới. Cho nó biết hồi đó, không phải chỉ có một con mẹ điên bồng nó đi xin ăn. Có ông tài xế, có bà làm muối, có má con Thâu, có ông làm đường, có ông bà gác chắn, có ôn chèo đò. Để tới khi nó tới bờ sông, biết tên thật, nó không chỉ nhớ có dì.

Bà kể bà đi trước họ, có khi đi sau. Ghé từng nhà, đứng từ xa nhìn. Ở chòi gác chắn, bà nấp sau ga xép, nghe ông Ngạn gọi điện cho con gái qua cửa sổ, mới biết tấm hình con Hạnh chụp năm đó còn giữ. Ở Gành Dừa, bà ngủ trong cái chòi lưới cũ một đêm. Ở đèo, bà để củ khoai lên yên xe.

– Dì không nhịn được. – Bà nói. – Trời mưa, con đi cả ngày.

– Trong ống cống. – Lộc hỏi. – Dì có thổi còi không?

Bà Lịch nhìn anh, nhíu mày, như không hiểu câu hỏi.

– Dì mô có còi. – Bà nói. – Cái còi ở con mà.

Lộc không hỏi thêm. Ngoài hiên, Nghi thấy Khải đang ngồi, đầu cúi xuống, hai tay đan vào nhau. Cậu nghe hết.

Chín giờ, hai người công an xã tới. Một anh trẻ, một chị lớn tuổi hơn, mặc sắc phục, đội mũ, giọng ôn tồn. Họ nói đã nắm sơ bộ sự việc qua dân quân và trạm y tế. Họ sẽ ghi lời khai của bà Lịch, của Lộc, của những người liên quan, xác minh lại từng chuyện, rồi báo cáo lên trên theo quy định. Chị công an nói với Lộc, khi anh hỏi bà Lịch sẽ ra sao:

– Đúng sai thế nào thì cơ quan có thẩm quyền xem xét, em ạ. Việc trước mắt là bà phải được chữa bệnh. Bà không có giấy tờ tùy thân, xã sẽ hỗ trợ làm lại. Em yên tâm.

Bà Lịch khai lại từ đầu, chậm, rõ. Lần này bà không giấu tên, không giấu xóm, không giấu ngày.

Chuyến đò đầu tiên sau bão cập bến Cồn Lở lúc gần mười giờ. O Lựu là người lên bờ đầu tiên. Chị đi thẳng tới trạm y tế, quần ướt tới đầu gối, tay xách một cái túi ni lông.

Chị dừng lại ở cửa phòng. Bà Lịch nhìn thấy chị. Hai người đàn bà nhìn nhau qua căn phòng nhỏ. Một người tóc búi cao, áo bà ba nâu. Một người nằm trên giường, tóc bạc, cổ có vết sẹo, cái khăn len đã mất.

Không ai nói gì rất lâu.

– Mười chín năm. – O Lựu nói. – Mười chín năm tui thắp nhang cho nó.

– Tui biết. – Bà Lịch nói. – Tui có tội.

O Lựu đi vào. Chị đặt cái túi ni lông lên bàn đầu giường, lấy ra một cái bánh dẻo tròn, mới, giấy bóng kính còn trong, và một con dao nhỏ. Chị gỡ lớp giấy. Chị cắt cái bánh làm tư. Tay chị run, đường cắt xiên xẹo.

Chị đưa một miếng cho Lộc.

– Phần thằng Sẻ. – Chị nói. – Năm ni có người ăn.

Rồi chị cầm miếng thứ hai. Chị đứng nhìn nó một lúc. Rồi chị đặt nó vào lòng bàn tay ốm nhom của bà Lịch.

– Phần thằng Tí. – O Lựu nói.

Bà Lịch nhìn miếng bánh trong tay mình. Rồi bà úp mặt vào lòng bàn tay, và khóc, khóc thành tiếng, như một người mười chín năm nay chưa từng được phép khóc trước mặt ai.

— Hết chương 19 —

Mục lục Ba nốt còi tre

  1. 1Ba nốt còi tre9 phút
  2. 2Cột cây số trên đồi cát11 phút đọc
  3. 3Dấu tay trên tấm bạt9 phút đọc
  4. 4Kho muối biết hát ru10 phút đọc
  5. 5Con cá khắc trên xà gỗ10 phút đọc
  6. 6Cá khô trước ngưỡng cửa10 phút đọc
  7. 7Những giây bị cắt9 phút đọc
  8. 8Tờ giấy ở bến xe9 phút đọc
  9. 9Tiếng khóc trong ống cống đèo9 phút đọc
  10. 10Ga xép không người gác10 phút đọc
  11. 11Tấm ảnh chụp bằng điện thoại cũ9 phút đọc
  12. 12Bến đò mùa nước bạc9 phút đọc
  13. 13Hai bờ sông Rào Mây9 phút đọc
  14. 14Ngôi mộ cát ở Cồn Lở9 phút đọc
  15. 15Chuyến đò ngang sang Đò Trai9 phút đọc
  16. 16Bàn thờ bên kia sông9 phút đọc
  17. 17Đêm mười bốn9 phút đọc
  18. 18Ba nốt dưới nước10 phút đọc
  19. 19Bánh Trung Thu cho thằng Sẻ9 phút đọc
  20. 20Tệp âm thanh không tên9 phút đọc

Về truyện này

Ba nốt còi tre là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Tín của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →