Chương 10: Quả bóng da có chữ ký trong bùn
Nước tới nhà thầy Thạch lúc bốn giờ sáng ngày hai mươi, và thầy ngồi trên bàn thờ.
Không phải ngồi lên bàn thờ. Thầy ngồi trên cái bàn gỗ dài kê ngay dưới bàn thờ, hai chân co lên, trên đùi đặt một cái hộp thiếc hình chữ nhật, cái loại hộp bánh trung thu người ta để dành đựng giấy tờ. Nước trong nhà đã ngập tới mặt ghế, đục ngầu màu đất đỏ, trôi lềnh bềnh mấy chiếc dép, một cái thau nhựa, một quả bóng chuyền cũ.
Tươm và Đăng lội vào từ cổng, nước tới ngang đùi. Đèn pin của Đăng quét qua khắp căn nhà. Thầy Thạch ngẩng lên, nheo mắt vì chói.
– Bây tới làm gì? Về nhà đi.
– Nhà em không ngập, thầy. – Tươm nói. – Nhà thầy thấp nhất hẻm. Ba em nói ra coi thầy.
Thầy Thạch nhìn hai đứa một lúc. Rồi thầy đưa cái hộp thiếc cho Tươm.
– Cầm cái này. Đừng làm ướt.
Đăng cõng thầy ra. Thầy không chịu, đòi tự lội, nhưng cái gối trái vừa bước xuống nước đã khuỵu. Đăng không hỏi, chỉ quay lưng lại, ngồi thấp xuống. Thầy leo lên lưng nó, im lặng, hai tay ôm cổ thằng nhỏ như ôm một cái cọc ghe. Tươm đi sau, ôm cái hộp thiếc trước ngực, đèn pin ngậm trong miệng.
Cả xóm sau miếu bà ngập. Mưa đã ngớt, nhưng nước từ sông vẫn đổ về, chảy qua những con hẻm thành từng dòng xiết. Người lớn đứng trên các mô đất cao gọi nhau, chuyền đồ đạc từ tay này qua tay kia. Đâu đó có tiếng heo kêu, tiếng chó sủa, tiếng loa của xã đọc đi đọc lại một thông báo mà không ai nghe rõ.
Nhà Tươm nằm trên đụn cát gần biển, nước không tới. Ba Tươm trải chiếu trên bộ ván, má nấu một nồi cháo trắng to. Thầy Thạch ngồi xuống bộ ván, ướt sũng, run lập cập. Má Tươm đưa cho thầy cái áo của ba, đưa chén cháo, không nói một chữ. Thầy ăn hết chén cháo, cũng không nói một chữ.
Tươm ngồi trong góc nhà, cái hộp thiếc vẫn ôm trong tay. Nó không mở. Nhưng nắp hộp hơi lỏng, và nó thấy một góc tấm hình thò ra. Hình chụp ngoài sân trường cũ, mười mấy đứa con gái mặc áo trắng đứng thành hai hàng, ở giữa là một người đàn ông tóc còn đen, đứng thẳng, không cà nhắc. Đứng cạnh ông là một đứa con gái cao nhất trong hình, áo số 9.
Thầy Thạch đặt chén xuống, đưa tay ra. Tươm trả cái hộp. Thầy đẩy góc tấm hình vào trong, đậy nắp lại cho kín, rồi ôm cái hộp nằm xuống ván, quay mặt vào vách.
Nước rút vào chiều ngày hai mươi. Trường học ngập một đêm, sáng thứ Bảy cả trường đi dọn.
Bùn đất đỏ phủ khắp các phòng học, dày tới mắt cá. Bàn ghế lật ngổn ngang. Mùi bùn, mùi rác, mùi nước tù đặc quánh trong không khí. Học sinh chia nhau theo lớp, xúc bùn, khiêng bàn ghế ra sân rửa, lau tường.
Đội bóng chuyền xin dọn phòng thể dục.
Không ai bảo. Tám giờ sáng, Tươm đi ngang qua dãy nhà kho sát hàng rào phía biển thì thấy Gấm, Hân, Mơ, Liễu, H'Ngân đã đứng sẵn ở đó, mỗi đứa một cái xẻng hay một cái xô. Nụ cũng có mặt, chống một cây nạng, tay cầm cái chổi, nói nó quét được.
Và Sương.
Sương đứng hơi xa, mang đôi ủng cao su, đeo găng tay. Từ ngày ở phòng thầy Toàn, nó không ra bãi, không trả lời tin nhắn, không ai gặp nó ngoài giờ học. Nó nhìn cả đội, và cả đội nhìn nó.
– Ba chị lấy điện thoại rồi. – Sương nói, như giải thích. – Hôm nay ba cho chị đi dọn trường.
Gấm đưa cho nó cái xẻng thứ hai.
– Vậy dọn đi chị.
Phòng thể dục là chỗ ngập sâu nhất. Nước tràn qua bờ rào phía biển, cuốn vào một lớp bùn dày, lẫn rác và rong. Mấy tấm thảm nhảy cao nổi lên rồi chìm xuống, giờ nằm vật vờ như xác cá. Cái tủ gỗ đổ nghiêng. Cái bàn của thầy Thạch nằm ngửa, bốn chân chổng lên trời.
Cả đội xúc bùn từ tám giờ tới mười một giờ. Không ai nói nhiều. Chỉ có tiếng xẻng cạo xuống nền xi măng, tiếng xô bùn đổ ra ngoài, tiếng Gấm thỉnh thoảng hô "Một, hai, ba, khiêng!" Nụ đứng một chân ở góc phòng, quét bùn ra cửa bằng cây chổi dài, quét chậm mà đều, không sót chỗ nào.
Lúc dựng cái bàn của thầy Thạch lên, ngăn kéo tuột ra, đổ xuống một bãi nước bùn. Trong đó có tờ giấy kẻ ô. Tươm nhặt lên. Giấy đã nhũn như bánh tráng nhúng nước, mực bút bi loang thành những vệt tím nhạt. Tám cái tên chỉ còn đọc được mấy chữ đầu. Tr... Ng... Đỗ... Lâm... Phan... Tào... Võ... Còn tên thứ tám, tên viết sau cùng bằng mực khác, thì nhòe hẳn thành một vết xanh hình con cá.
– Bỏ đi Tươm, rách rồi, – Hân nói.
Tươm không bỏ. Nó đặt tờ giấy lên bậu cửa sổ, lấy hai viên gạch vỡ chặn hai đầu cho gió khỏi thổi bay. Nắng chiếu qua song cửa, rọi lên tờ giấy ướt, làm nó bốc hơi mờ mờ như nồi cơm sắp chín.
– Khô rồi viết lại, – nó nói.
H'Ngân đi tới, nhìn tờ giấy một lúc. Rồi nó cầm một mẩu than củi rơi trong góc phòng, cúi xuống, viết lên bậu cửa xi măng, sát bên tờ giấy, tên của mình, từng chữ một, nắn nót như học trò lớp Một. Liễu viết tên mình bên dưới. Rồi Gấm. Rồi Mơ, Hân, Nụ. Tươm viết sau cùng. Sương đứng nhìn bảy dòng than đen trên bậu cửa, cầm mẩu than lên, rồi đặt xuống, không viết.
Gần trưa, thầy Toàn đi vào.
Thầy mang ủng cao su, quần xắn tới gối, áo sơ mi đã lấm bùn tới vai. Thầy đi kiểm tra từng phòng từ sáng sớm. Thầy dừng ở cửa phòng thể dục, nhìn tám đứa con gái đang khiêng cái tủ gỗ dựng lên. Nhìn con gái mình đứng ở góc tủ nặng nhất, hai tay ghì lấy mép gỗ.
Thầy không nói gì. Thầy đi vào, cầm lấy cái xẻng mà Hân vừa dựng vào tường, và bắt đầu xúc bùn.
Thầy Toàn xúc bùn cạnh Tươm gần một tiếng. Hai thầy trò đứng ở góc trong cùng, chỗ bùn dồn dày nhất, dưới gầm cái kệ sắt đựng dụng cụ.
– Em Tươm.
– Dạ.
– Hôm đó, sao em nói là em biết?
Tươm dừng xẻng. Nó nghĩ một lúc.
– Tại em thấy chị Sương giấu một mình khổ quá thầy. – Nó nói. – Chị đánh bóng vô tường nhà văn hóa mấy năm. Tối nào cũng một mình. Em không muốn chị đứng đó một mình nữa. Em mà nói không biết, thì chị lại đứng một mình.
Thầy Toàn không đáp. Thầy xúc thêm mấy xẻng bùn, hất vào cái xô.
– Còn em? Sao em chơi?
Câu hỏi đó Tươm chưa bao giờ nghĩ tới. Nó đứng im, nhìn xuống lớp bùn đỏ.
– Dạ, hồi nhỏ em tung quả bóng lên trời rồi đỡ, tung rồi đỡ. – Nó nói chậm. – Má em kêu đi làm, em phải chụp cho được rồi mới đi. Có bữa em tung lên, em ước nó đừng rớt xuống. Nó ở trên đó thì em còn đứng đó được. Em không cần đi đâu hết.
Thầy Toàn quay lại nhìn nó. Mặt thầy dính bùn ở một bên má, cặp kính trễ xuống mũi.
– Con Huyền cũng nói câu đó. – Thầy nói, rất khẽ. – Hồi nó mười ba tuổi.
Rồi thầy cúi xuống. Xẻng của thầy chạm phải một vật gì đó mềm mềm dưới lớp bùn. Thầy bỏ xẻng, thò tay xuống, lôi lên.
Một quả bóng chuyền bằng da cũ, xẹp lép, phủ đầy bùn. Thầy lấy tay quệt lớp bùn đi. Lớp da màu trắng đã ngả vàng, các múi da bong tróc. Trên mặt da có những dòng chữ viết bằng bút bi, mực đã nhòe nhưng còn đọc được. Mười mấy cái tên. Mỗi cái tên kèm một con số.
Thầy Toàn xoay quả bóng chậm rãi. Tươm thấy ngón tay thầy dừng lại ở một chỗ. Ở đó có một cái tên viết nghiêng nghiêng, nét chữ của con gái mười bảy tuổi: "Huyền – 9". Bên dưới, ai đó viết thêm một dòng nhỏ hơn, mực xanh khác màu: "Bán kết. Mình về."
Thầy Toàn đứng đó rất lâu. Ngoài cửa, Sương đang cùng Hân khiêng tấm thảm nhảy cao ra phơi. Nó không thấy ba nó. Nó đang cười vì Gấm vừa trượt chân té ngồi trong bùn.
Thầy Toàn ôm quả bóng xẹp vào ngực, bùn dính lên áo sơ mi. Rồi thầy đi ra, không nói một tiếng nào.
Chiều Chủ nhật, Sương mượn điện thoại của má nhắn cho Tươm một tin. Tin nhắn ngắn tới mức Tươm phải đọc hai lần.
"Ba đem quả bóng về, để trên bàn thờ ông bà. Ba ngồi nhìn nó tới khuya. Chị Huyền gọi về, chị kể hết chuyện đội cho chị Huyền rồi. Chị Huyền nói chị Huyền lên xe rồi."
Bốn giờ rưỡi sáng thứ Hai, ở bến cá Vũng Me, Tươm đang khiêng thau cá ngân lên bờ thì nghe tiếng xe khách thắng gấp ngoài ngã ba quốc lộ. Xe đêm từ trong Nam ra, tuyến chạy qua đây mỗi sáng.
Nó đặt thau cá xuống, nhìn ra.
Dưới ánh đèn cao áp vàng vọt, một chiếc xe máy đã đậu sẵn ở ngã ba. Người ngồi trên xe mặc áo khoác gió, đội mũ bảo hiểm, nhưng Tươm nhận ra cái dáng ngồi thẳng lưng, hai vai vuông vức như hai cạnh của cái thước ê ke.
Cửa xe khách mở ra. Một người phụ nữ bước xuống. Cao, gầy, tóc cột đuôi ngựa, đeo một cái ba lô to trên vai. Chị đặt chân xuống bậc xe, chân phải trước, rồi chân trái, chậm và cẩn thận, như người ta bước xuống một chiếc thuyền đang chòng chành. Chị đứng thẳng lên dưới ánh đèn. Rồi chị bước tới chiếc xe máy, bước thứ nhất hơi lệch, bước thứ hai đã đều.
Người đàn ông trên xe máy không xuống xe. Ông chỉ đưa tay ra, đỡ lấy cái ba lô.
– Tươm! – Má nó gọi. – Đứng đó ngó cái gì!
Tươm cúi xuống, nhấc thau cá lên. Nhưng nó vẫn nhìn theo chiếc xe máy chở hai người đi khuất vào con đường dẫn về khu giáo viên, cho tới khi cái đèn hậu đỏ chỉ còn bằng một hạt đậu.
— Hết chương 10 —

🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe