Chương 2: Hai lý do trên một băng ghế
Căng tin bệnh viện giờ trưa đông nghẹt người nhà bệnh nhân, mùi cơm tấm sườn nướng lẫn với mùi thuốc sát trùng bay từ hành lang qua. Trí chọn cái bàn sát góc, cạnh cái tủ lạnh bán nước ngọt kêu ù ù. Bí ngồi ghế bên cạnh, cột con mèo găng tay vào chân ghế bằng sợi thun buộc tóc, rồi cúi xuống ăn hộp xôi gà.
– Cô uống gì? – Trí hỏi.
– Tôi uống nước lọc.
Anh đi mua hai chai nước lọc, đặt một chai trước mặt cô, vặn sẵn nắp. Mai để ý cái chi tiết đó. Người ta vặn nắp sẵn cho trẻ con, cho người già, cho người bệnh. Ít ai vặn nắp cho một người lạ khỏe mạnh.
– Ba má con bé mất năm ngoái, – Trí nói, không vòng vo. – Tháng Ba. Anh Hai tôi với chị dâu chở nó trên xe máy, về từ đám giỗ dưới Vĩnh Châu, chín giờ tối, trên quốc lộ. Xe tải lấn làn. Hai người đi luôn. Con nhỏ ngồi giữa, trầy hai đầu gối.
Mai nhìn sang con bé. Bí đang nhặt mấy sợi hành phi ra khỏi xôi, xếp thành một hàng thẳng trên nắp hộp, như xếp que tính.
– Tôi xin lỗi, – cô nói.
– Không sao. Tôi kể để cô hiểu thôi. Hồi đó tôi làm trên Sài Gòn. Tôi xin nghỉ, về Cần Thơ, xin vô làm công ty xây dựng ở đây, thuê phòng trọ gần cầu Hưng Lợi, nuôi nó. Nhà tôi không còn ai. Ba tôi mất hồi tôi mười tuổi, má tôi mất năm năm trước.
– Còn bên ngoại con bé?
– Bà ngoại nó. Bà Năm, ở dưới Vĩnh Châu, trồng hành. Hồi đám tang, bà đòi đem nó về. Nó khóc không chịu, nó ôm chân tôi, ai gỡ cũng không ra. Nó gọi tôi là chú Trí từ hồi biết nói, anh Hai tôi hay đưa nó lên Sài Gòn chơi. Bà Năm thương cháu, bà chịu để nó ở với tôi một năm. Giấy giám hộ ở phường thì đứng tên bà. Bà là bà ngoại, theo luật thì bà đứng trước tôi. Tôi là chú, tôi đứng sau.
Anh nói câu đó bình thường, không có giọng than.
– Một năm hết rồi, – Mai nói.
– Hết từ tháng Tư. Bà Năm gia hạn cho tôi tới khai giảng. Tháng Chín này nó vô lớp Một. Bà muốn nó vô lớp Một dưới Vĩnh Châu, ở với bà, với cậu mợ nó. Bà nói nhà tôi không có ai đàn bà, con gái lớn lên không ai dạy. Bà nói tôi đi công trình tối ngày, có đêm mười giờ mới về, con nhỏ phải gửi bà hàng xóm. Bà nói đúng hết.
– Nhưng anh không muốn đưa nó về.
– Tôi không muốn đưa nó đi đâu hết, – Trí nói. – Mà chuyện tôi muốn không quan trọng. Nó muốn ở với tôi. Mỗi lần bà Năm gọi điện, nó trốn vô gầm bàn. Cô làm khoa Nhi, cô biết con nít trốn vô gầm bàn là sao.
Mai biết. Cô đã thấy những đứa trẻ chui vô gầm giường bệnh khi nghe tiếng bước chân của một ai đó. Chuyện đó không có nghĩa người kia là người xấu. Chuyện đó chỉ có nghĩa đứa nhỏ đã mất quá nhiều thứ, giờ nó bám vào cái gì thì không muốn buông cái đó.
– Bà tôi nói với anh cái gì? – Cô hỏi.
– Bà nói cô cần một người chồng để giữ cái nhà. Tôi cần một cái nhà có người, để giữ con nhỏ. Bà nói hai cái cần đó ráp lại vừa khít. Bà nói vậy đó.
– Bà tôi bốn mươi năm bán bánh ngoài chợ, – Mai nói. – Ráp người ta như ráp mâm bánh.
Trí cười, lần đầu tiên. Nụ cười làm cái mặt sạm nắng của anh trẻ ra mấy tuổi.
– Tôi không xin cô thương tôi, – anh nói, giọng nghiêm lại. – Tôi biết chuyện này nghe kỳ. Mình đăng ký ở phường cho đàng hoàng, bà cô yên tâm làm giấy nhà, bà Năm thấy con nhỏ có một cái nhà có người. Tôi đóng tiền nhà, tiền điện, tiền chợ một nửa. Tôi ngủ ở đâu cũng được. Lúc nào cô thấy đủ, cô muốn thôi, mình ra tòa làm thuận tình, tôi không làm khó cô. Tôi chỉ xin tới lúc con nhỏ ở yên được.
– Anh có biết tôi là người như thế nào không mà đòi cưới?
Trí im một lúc. Anh nhìn chai nước trước mặt cô, cái nắp anh đã vặn sẵn.
– Tôi biết cô sáng nào cũng tưới cây mận trước khi đi làm, – anh nói. – Biết cô đi ca đêm về thì ghé chè cô Bảy mua một ly đậu xanh cho bà. Biết bà cô ho thì cô thức. Ở đối diện ba tháng, chừng đó là đủ biết một người.
– Chừng đó chưa đủ.
– Chưa đủ, – anh đồng ý. – Nhưng tôi không có thời gian chờ tới đủ.
Bí ngẩng lên, miệng dính hạt xôi.
– Chú Trí, con ăn xong rồi. Con mèo đói.
– Mèo ăn găng tay, – Trí nói. – Không ăn xôi.
Con bé ngẫm nghĩ câu đó rất nghiêm túc. Mai nhìn đồng hồ trên tường căng tin. Mười hai giờ hai mươi. Cô đứng dậy.
– Tôi phải lên với bà rồi còn vô ca, – cô nói. – Tôi không trả lời anh bây giờ được.
– Tôi không cần cô trả lời bây giờ.
Cô đi được ba bước thì nghe sau lưng giọng con bé:
– Cô ơi, con mèo của cô tên gì?
Mai quay lại.
– Cô chưa đặt tên. Bí đặt đi.
Con bé nhìn con mèo, nhìn sợi râu cong cong bên phải.
– Tên Dấu Hỏi, – nó nói.
Mai đứng đó một giây, không hiểu vì sao cái tên làm cô thấy nhột trong cổ. Rồi cô gật đầu, đi ra.
Ca chiều ở khoa Nhi hôm đó không có gì đặc biệt: hai bé sốt xuất huyết, một bé viêm phổi, một bé hai tuổi nuốt hột chôm chôm được gắp ra từ sáng, giờ nằm ăn cháo khỏe re. Chị Diễm, điều dưỡng trưởng, hỏi thăm bà Tư hai lần. Bác sĩ Khang ghé ngang quầy, để lại một ly cà phê sữa đá, nói "cho em tỉnh", như mọi tuần. Mai cảm ơn, như mọi tuần, rồi để ly cà phê tan đá trên bàn trực tới hết ca.
Chín giờ rưỡi tối cô về. Hẻm Mười Ba nằm bên rạch Bần, một con rạch nhỏ đổ ra sông Cần Thơ, hẻm rộng vừa hai chiếc xe máy tránh nhau, mười mấy nóc nhà hai bên. Đầu hẻm là xe chè của cô Bảy, chè bột báng, chè đậu xanh, chè chuối, mỗi ly mười hai ngàn, ngồi ghế nhựa đỏ ăn tại chỗ. Cô Bảy đã dọn xe, đang ngồi đếm tiền dưới bóng đèn, thấy Mai thì ngẩng lên:
– Bà Tư sao rồi con?
– Dạ đỡ rồi cô, chắc thứ Hai cho về.
– Ờ, bữa đó cô sợ muốn chết. Mà nhờ thằng Trí. Thằng đó được nghen con. Cõng bà con chạy một mạch ra đường lớn không nghỉ chân.
Cô Bảy nói câu đó bằng cái giọng của người biết chuyện. Mai không hỏi cô Bảy biết tới đâu. Ở hẻm này, chuyện gì đi qua xe chè thì coi như đã lên loa phường.
Nhà bà Tư nằm gần cuối hẻm, phía bên phải, lưng quay ra rạch. Cái cổng sắt sơn xanh đã tróc, khóa bằng ổ khóa đồng to cỡ nắm tay, ông ngoại mua năm chín mươi, ba cái chìa: bà giữ một, Mai giữ một, cái thứ ba để trong hộc tủ thờ, chưa từng ai dùng từ ngày ông mất. Sân trước có cây mận trái hồng đào, mùa này đang ra bông trắng. Sau nhà là bến nước, sáu bậc xi măng xuống rạch, bậc cuối cùng nước triều lên thì ngập.
Đêm nay cổng không khóa. Trong sân có một chiếc xe máy cũ dựng chân chống, và trên bậc thềm, cậu Ba Lũy ngồi hút thuốc.
– Cậu Ba.
– Ờ, về rồi đó hả. Cậu chờ mày từ chín giờ.
Cậu Ba năm mươi tám tuổi, nuôi cá tra ở Phong Điền hai chục năm. Hồi Mai còn nhỏ, cậu là người cõng cô đi coi chợ nổi Cái Răng, mua cho cô cái bánh bò thốt nốt to bằng bàn tay. Giờ cậu ngồi đó, áo sơ mi nhăn, râu không cạo, hai bên thái dương bạc trắng, điếu thuốc trên tay run run.
– Cậu vô nhà ngồi đi, ngoài này muỗi.
– Thôi, cậu nói chút rồi về. – Cậu Ba dụi điếu thuốc xuống nền xi măng, rồi nhặt đầu lọc lên bỏ vô túi áo, vì bà Tư ghét ai xả rác trong sân. – Bà có nói với mày chưa?
– Dạ có.
– Người ta trả ba tỷ hai. Giá đó là giá cao, Mai. Nhà cấp bốn, đất hơn trăm thước, hẻm xe máy. Người ta mua là vì cái bến nước, vì mai mốt kè xong thì đất ven rạch lên giá. Bán rồi chia ra, cậu lấy phần cậu trả nợ, phần mày mày mua căn chung cư gần bệnh viện, bà về ở với cậu. Vậy là êm hết.
– Bà không muốn bán.
– Bà già rồi, bà muốn gì cũng đâu có được nữa. Mày làm điều dưỡng, mày biết bà còn bao lâu. Bữa xỉu đó, nếu không có thằng hàng xóm thì sao?
Mai nắm chặt quai túi xách.
– Cậu, đừng nói vậy.
Cậu Ba im. Ngoài rạch có tiếng máy ghe chạy ngang, đèn pha quét một vệt sáng qua mấy tàu lá chuối sau nhà. Rồi cậu nói, giọng thấp hẳn xuống:
– Cậu nợ chín trăm triệu, Mai. Bảy trăm ngân hàng, hai trăm vay ngoài. Hai trăm vay ngoài đó lãi ngày. Tuần trước tụi nó tới nhà, đứng trước cổng, không nói gì hết, chỉ đứng đó hút thuốc. Mợ mày ba đêm không ngủ.
Mai không biết nói gì. Cô ngồi xuống bậc thềm cạnh cậu.
– Sao cậu không nói với con sớm?
– Nói với mày để làm gì? Lương mày được bao nhiêu? – Cậu Ba đứng dậy, phủi quần. – Cậu không trách mày. Cậu chỉ nói cho mày biết. Bà thương mày nhất nhà, bà nghe mày. Mày khuyên bà giùm cậu.
Cậu dắt xe ra cổng. Tới cổng, cậu ngoái lại.
– Bà có nói tới chuyện mày lấy chồng không?
Mai không trả lời. Cậu Ba nhìn qua bên kia hẻm, nơi căn nhà thuê đối diện còn sáng đèn, có tiếng con nít đang hát một bài gì đó về con vịt.
– Bà nói rồi phải không, – cậu Ba nói, không phải câu hỏi. – Bà già này, tính cái gì cũng tính trước người ta ba nước.
Tiếng xe máy cũ của cậu xa dần ra đầu hẻm.
Mười giờ rưỡi, Mai tắm xong, ra ngồi ở bến nước sau nhà. Nước rạch đang lên, đã ngập tới bậc thứ năm, mặt nước đen bóng, thỉnh thoảng một cụm lục bình trôi qua. Cô nghĩ tới bà nằm trên tầng bốn, cái kẹp đo trên ngón tay. Nghĩ tới cậu Ba nhặt đầu lọc thuốc bỏ vô túi áo. Nghĩ tới đứa bé chui vô gầm bàn khi nghe điện thoại reo.
Cô nghĩ tới cái nắp chai nước đã vặn sẵn.
Bên kia hẻm, tiếng hát về con vịt đã tắt. Đèn trong nhà Trí tắt bớt, chỉ còn bóng đèn ngủ màu vàng ở phòng trong và ánh sáng xanh của một cái máy tính xách tay ở bàn ngoài. Anh còn thức.
Mười một giờ kém năm, Mai mặc áo khoác vô, mở cổng, đi qua hẻm. Tám bước, cô đếm. Cô đứng trước cửa sắt nhà thuê, giơ tay lên, để đó một lúc, rồi gõ ba cái.
Cửa mở. Trí đứng đó, mặc áo thun ba lỗ, tay còn cầm cây bút chì kỹ thuật.
– Tôi có ba điều kiện, – Mai nói. – Anh nghe được thì mình nói tiếp. Không nghe được thì coi như chưa có chuyện gì.
— Hết chương 2 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe