Chương 18: Mười bốn ngày của bà Năm
Bà Năm không trả lời ngay. Bà kéo cái ghế đẩu nhựa ở góc phòng lại, ngồi xuống cạnh giường Bí, chậm rãi, cái lưng sáu mươi sáu tuổi của bà kêu răng rắc sau một đêm lội nước. Bà nhìn đứa cháu ngủ, cái ống khí dung đã tháo, cái miệng nhỏ hé mở, hơi thở đều.
– Biết, – bà nói. – Biết từ cái hôm tao lên coi mặt mày. Hôm thằng Trí dắt tao ra bến nước.
Trí ngồi ở cái ghế cuối hàng, cúi đầu. Anh không nói gì.
– Nó kể tao nghe hết, – bà Năm nói tiếp. – Kể bà Tư bày ra cái điều kiện. Kể cái nhà đã có giấy cho mày từ trước. Kể nó gật đầu vì con Bí. Tao nghe tới đó, tao định đứng dậy đi về Vĩnh Châu, rước con nhỏ theo. Tao không chịu cái nhà nào dựng bằng chuyện gạt người ta. Tao già rồi, tao biết cái nhà dựng kiểu đó nó sập lúc nào.
– Rồi sao bà không đi? – Mai hỏi.
– Vì nó kể tiếp. – Bà Năm quay sang nhìn Trí. – Nó nói, bà Năm, con nói hết với bà vì con không muốn gạt thêm ai nữa. Nó nói, cái cô điều dưỡng đó là người ôm con Bí trong phòng cấp cứu cả đêm hôm anh Hai chị Thúy mất. Nó nói, cái con mèo trên găng tay con Bí giữ là cô đó vẽ.
Bà Năm im một lúc. Ngoài cửa sổ, trời sáng dần, có tiếng xe đẩy cơm sáng lăn ngoài hành lang.
– Đêm đó, – bà nói, giọng thấp xuống, – tao ở dưới Vĩnh Châu. Tao đâu có biết gì. Mười giờ đêm người ta gọi tao. Tao với thằng Chiến kêu xe lên, xe bể bánh giữa đường, tới nơi là gần sáu giờ sáng. Con Thúy với thằng rể nằm trong nhà xác rồi. Con Bí thì thằng Trí ôm, ngồi ở cái hàng ghế sắt kia. – Bà chỉ tay ra hàng ghế xanh. – Tao hỏi ai ôm nó cả đêm. Thằng Trí nói, có một cô điều dưỡng. Tao đi kiếm cô đó để cảm ơn. Người ta nói cô đó lên khoa rồi, hết ca rồi. Tao không biết tên. Tao chỉ thấy cái găng tay con mèo trong tay con nhỏ.
Mai không nói được. Cô nắm chặt chiếc găng tay xẹp trong lòng bàn tay.
– Hơn một năm, – bà Năm nói. – Tao tưởng tao không bao giờ biết mặt cô đó. Rồi bữa đó, ở cái bến nước nhà bà Tư, thằng Trí nói, bà Năm ơi, chính là cô Mai. Tao ngồi trên bậc bến, tao nghe xong, tao nắm cổ tay nó, tao không biết nói gì.
Bà Năm quay lại nhìn Mai.
– Tao gật là vì cái đó, – bà nói. – Không phải vì cái nhà. Không phải vì mày biết phi hành. Tao gật vì đứa con gái tao chết đi, có một người tao không biết mặt ôm con nó cả đêm. Giờ người đó muốn nuôi nó, thì tao còn cản cái gì.
Mai ngồi im rất lâu. Trí vẫn cúi đầu ở cái ghế cuối hàng.
– Bà biết cái võng, – Mai nói. – Hôm khai giảng.
– Ờ. Tao biết. – Bà Năm cười, lần đầu tiên Mai thấy bà cười. Cái cười làm khuôn mặt sạm nắng gió biển của bà nhăn lại thành từng rãnh. – Tao để coi tụi bây tính sao. Tụi bây trẻ, tụi bây tưởng ngủ võng là chuyện lớn. Tao nói mày nghe chuyện của tao.
Bà kể, bằng cái giọng bình thường như kể chuyện con vịt, cái giọng mà Mai bây giờ mới biết con Bí học từ ai.
Năm mười chín tuổi, bà được mai mối cho ông Năm, người làng bên, trồng hành, hơn bà bảy tuổi. Gặp nhau lần đầu ở đám giỗ, mười bốn ngày sau thì cưới. Đêm tân hôn, bà nghe lỏm ông nói với ông anh họ ngoài hiên: má ổng bệnh nặng, bà cụ muốn thấy con trai có vợ trước khi đi, nên ổng cưới cho bà cụ yên lòng. Bà cụ mất ba tháng sau đám cưới.
– Tao giận ổng một năm, – bà Năm nói. – Một năm tao không nói với ổng câu nào ngoài chuyện cơm nước. Tao tính về nhà ba má tao. Rồi một bữa mùa nước lớn, giống đêm qua, nước biển tràn vô ruộng hành. Ổng lội ra ruộng cứu từng liếp hành tới nửa đêm. Tao đứng trên bờ coi. Tao không biết sao, tao lội xuống. Hai đứa cứu được nửa ruộng. Sáng ra tao nấu nồi cháo, ổng ăn, ổng nói, "Hồi đầu tôi cưới bà vì má tôi. Giờ tôi ở với bà vì bà." Tao ở với ổng bốn chục năm. Ổng mất ba năm trước.
Bà dừng lại, nhìn ra cửa sổ.
– Cái lý do người ta cưới mình, nó là cái cổng, – bà nói. – Ai cũng phải đi qua một cái cổng. Có cái cổng đẹp, có cái cổng xấu. Đi vô rồi thì ở trong nhà mới là chuyện. Mày ở trong nhà đó bốn tháng rồi. Mày biết cái nhà đó ra sao. Mày còn hỏi tao cái cổng làm chi.
Mai nhìn xuống chiếc găng tay. Rồi cô nhìn Trí. Anh đã ngẩng lên. Hai người nhìn nhau qua phòng cấp cứu, qua giường con Bí đang ngủ, qua cái hàng ghế sắt xanh.
– Con Bí ở lại đây, – bà Năm nói, đứng dậy, phủi quần. – Hè cho nó về Vĩnh Châu ba tuần với tao. Tết tao lên. Hết.
Tới cửa phòng, bà ngoái lại.
– Còn thằng Ba cậu mày. Nó gọi tao hôm thứ Năm. Mày đừng vội giận nó. Mày lên hỏi nó coi nó nói gì với tao.
Mai đi lên khoa Tim mạch lúc sáu giờ rưỡi.
Bà Tư nằm ở giường sát cửa sổ, đang ngủ, cái kẹp đo trên ngón tay nhấp nháy con số tám mươi hai. Trên cái ghế nhựa ngoài cửa phòng, cậu Ba Lũy ngồi ngủ gục, đầu tựa vô tường, cái mũ bảo hộ đặt trên đùi, quần còn ướt tới gối.
Mai đứng nhìn cậu một lúc. Rồi cô ngồi xuống cái ghế bên cạnh. Cậu Ba giật mình thức dậy.
– Ờ. Mày. Con nhỏ sao rồi?
– Dạ, bé đỡ rồi cậu. Bé ngủ rồi.
– Ờ.
Cậu Ba dụi mắt. Hai cậu cháu ngồi cạnh nhau trên hai cái ghế nhựa, nhìn cánh cửa phòng bệnh.
– Bà Năm nói, – Mai nói. – Hôm thứ Năm cậu gọi xuống Vĩnh Châu.
Cậu Ba không trả lời ngay. Cậu xoay cái mũ bảo hộ trên đùi.
– Ờ, cậu gọi.
– Cậu nói gì với bà?
– Cậu nói với bả... – Cậu Ba ngừng. – Cậu nói, bà lên coi con nhỏ giùm. Nhà đó giờ có má tôi mới ra viện, thằng Trí tay mới tháo bột, con Mai thì đi rồi, nước rằm sắp lên. Tôi làm công trình, tôi biết nước năm nay lên cao, tôi lo. – Cậu nhìn xuống cái mũ. – Rồi cậu nói thêm. Cậu nói, bà có nghe ai nói tụi nó cưới giả thì bà đừng tin. Không có giả. Tôi nghe chính miệng con Mai nói, tụi nó là vợ chồng thật.
Mai quay sang nhìn cậu.
– Cậu nói vậy?
– Ờ. Bả im một hồi lâu, rồi bả nói "tôi biết rồi, tôi lên". – Cậu Ba cười, cái cười méo xệch. – Cậu tính hù mày một câu, rồi tới hồi gọi thì nói ngược lại hết. Cậu già rồi, làm chuyện gì cũng không ra hồn.
Mai nhìn cậu. Cái thái dương bạc trắng. Cái quần ướt tới gối. Cái mũ bảo hộ. Cô thò tay vô túi áo, lấy ra tấm hình cũ, tấm hình cô đã bỏ trong túi áo từ hôm đám cưới, chuyển qua từng cái áo một, đêm qua ướt sũng, giờ cong vênh, loang mực: cậu Ba hồi ba mươi mấy tuổi, kiệu đứa bé gái ba tuổi trên vai ở chợ nổi.
Cậu Ba nhìn tấm hình. Cậu cầm lấy. Bàn tay cậu run.
– Ướt rồi mà còn thấy cái bánh bò, – cậu nói. – Cái bánh bò thốt nốt. – Mày ăn có một nửa, mày đòi đem về cho bà.
– Con không nhớ.
– Cậu nhớ.
Hai cậu cháu ngồi im. Rồi cậu Ba nói, không nhìn cô:
– Hôm đó cậu nói bậy. Hôm trong sân, cái hôm "mày hỏi nó coi nó làm cho ai". Hôm trong nhà, cái hôm đòi sổ hồng. Cậu xin lỗi mày.
– Dạ.
– Cậu cũng xin lỗi thằng Trí. Mà cậu chưa biết nói sao. Nó cho cậu cái việc chạy xuồng, cậu còn chưa cảm ơn nó.
Cửa phòng bệnh mở. Bà Tư đứng đó, chống gậy, cái kẹp đo vẫn kẹp trên ngón tay, sợi dây nối tới cái máy kéo căng.
– Thằng Lũy, – bà nói. – Vô đây má nói chuyện.
Bà Tư nói chuyện với hai đứa trong mười phút. Bà nói ngắn, như bà nói khi bán bánh: một câu là một câu.
Bà có dành dụm được hai cây vàng, bốn mươi năm bán bánh, bỏ trong cái hũ sành để dưới gầm bàn thờ, không ai biết. Bà đưa cho thằng Lũy, trả hết cái nợ ngoài lãi ngày, lấy lại chiếc xe máy. Nợ ngân hàng thì thằng Lũy tự trả bằng tiền chạy xuồng và tiền bán cái ao cá, từ từ, ngân hàng không lấy lãi ngày. Cái nhà ven rạch Bần thì để cho con Mai như giấy đã làm. Thằng Lũy mà có bề gì, cái nhà này cửa luôn mở cho nó với con Huyền.
– Má hỏi con Mai trước, – bà Tư nói, quay sang Mai. – Hai cây vàng đó lẽ ra bà để cho con làm của hồi môn. Con chịu không?
– Con chịu, bà.
Cậu Ba ngồi trên mép giường bệnh của má, cúi mặt. Một lúc lâu, cậu đưa tay lên chùi mắt bằng cái mu bàn tay dính bùn khô.
Mai xuống lại phòng cấp cứu lúc bảy giờ rưỡi. Bí đã thức, đang ngồi trên giường ăn cháo bà Năm đút. Con bé thấy Mai, cười toe, cái cười của đứa trẻ khỏe lại nhanh như chưa từng bệnh.
Cái ghế cuối hàng ghế sắt trống trơn.
– Chú Trí đâu con?
– Chú Trí về nhà, – Bí nói, miệng đầy cháo. – Chú nói chú về dọn nước. Chú nói nhà dơ, cô Mai về thấy cô buồn.
Mai đứng nhìn cái ghế trống.
Mười một giờ trưa, nước trong hẻm Mười Ba đã rút. Cả hẻm bê bết bùn non, mùi bùn rạch nồng nặc. Người ta ra quét sân, xịt nước, phơi đồ. Cô Bảy đang chùi lại cái xe chè, thấy Mai thì chỉ tay vô nhà bà Tư, không nói gì.
Sân nhà bà Tư đã được quét sạch. Nền nhà trước đã được xịt nước, lau khô. Cái tủ lạnh vẫn còn đứng trên bộ ván. Mấy cái giường kê gạch đã được hạ xuống. Trên cái kệ cao, sách vở của Bí, giấy tờ của bà, cái phong bì nâu, vẫn khô ráo, đúng chỗ.
Trí không có ở nhà.
Mai đi vô buồng mình. Tấm chiếu cói dưới sàn đã được cuốn lại, dựng vô góc tường. Cái gối ôm nằm lại trên giường.
Trên cái gối, đặt ngay chính giữa, là một cái chìa khóa đồng cũ, xỉn màu, cột sợi chỉ đỏ.
Cái chìa khóa thứ ba.
— Hết chương 18 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe