Chương 14: Phong bì công chứng
Taxi tới đầu hẻm lúc năm giờ mười tám. Trí bế bà Tư từ giường ra tới xe, như bế một bó củi khô, nhẹ hều. Mai chạy theo, tay xách cái túi đồ đi viện, tay cầm điện thoại gọi cho cô Bảy nhờ qua trông Bí tới khi con bé dậy đi học.
Cô Bảy chạy qua trong bộ đồ ngủ, tóc còn cuộn lô, chưa hỏi gì đã nói: "Đi đi, đi đi, con nhỏ để cô."
Trên taxi, bà Tư ngồi giữa hai đứa, đầu ngả vô vai Trí, thở rít. Mai cầm cổ tay bà đếm mạch, mắt nhìn đồng hồ điện thoại. Một trăm mười hai. Nhịp không đều. Cô không nói con số đó ra.
Phòng cấp cứu nhận bà lúc năm giờ ba mươi lăm. Bác sĩ trực là người quen, nhìn Mai một cái là hiểu, không cần hỏi tiền sử nhiều. Thở oxy, chích thuốc lợi tiểu, đo điện tim, lấy máu. Tám giờ, bà được chuyển lên khoa Tim mạch tầng bốn, nằm đúng cái phòng sáu giường hồi tháng Năm, chỉ khác giường, lần này sát cửa ra vào.
Tới chín giờ, bà Tư đã nằm xuống được, đầu giường kê cao, cái ống oxy mảnh trên mũi, cái kẹp đo ở ngón tay. Bà ngủ. Con số trên máy đo xuống chín mươi tám, rồi chín mươi lăm.
Mai ngồi xuống cái ghế nhựa bên giường, lần đầu từ năm giờ sáng. Hai chân cô run, giờ mới run.
– Em ăn gì chưa? – Trí hỏi.
– Chưa.
– Anh đưa con Bí đi học rồi quay lại. Cô Bảy nhắn con nhỏ dậy rồi, đang khóc đòi bà Tư. Anh mua cháo cho em luôn.
– Anh đi đi.
Anh đặt cái túi đồ đi viện của bà xuống chân giường, rồi cúi xuống, hôn lên đỉnh đầu cô, một cái rất nhanh, như người ta chạm vô một món đồ để chắc là nó còn đó. Rồi anh đi.
Mai ngồi nhìn bà ngủ một lúc. Rồi cô cúi xuống mở cái túi đồ, định lấy cái khăn với cái ly nhựa ra để sẵn trên đầu tủ.
Cái thẻ bảo hiểm y tế nằm trên cùng, lúc ở cấp cứu cô đã lấy ra đưa rồi bỏ lại. Dưới nó, kẹp sát vô, là một cái phong bì giấy nâu khổ lớn, đã cũ, mép bị quăn. Trí đã vơ cả hai thứ trong hộc tủ thờ lúc năm giờ sáng, gấp rút, không kịp nhìn.
Trên góc phong bì có in tên một văn phòng công chứng trên đường Trần Hưng Đạo.
Mai cầm cái phong bì lên. Nó không dán. Cái nắp chỉ gài vô khe. Cô nhìn bà Tư. Bà vẫn ngủ, cái ống oxy trên mũi phập phồng theo nhịp thở.
"Con đừng mở cái phong bì."
Mai đặt cái phong bì xuống đùi. Cô ngồi như vậy chừng năm phút. Ngoài hành lang, xe đẩy thuốc lăn qua, có tiếng điều dưỡng gọi tên bệnh nhân giường số bốn đi chụp phim. Cô nhìn cái phong bì. Cô không mở.
Rồi một cô điều dưỡng khoa Tim mạch đi vô, cô Thắm, bạn học cũ của Mai hồi trường trung cấp, cầm theo một tờ giấy.
– Mai, giấy cam kết người nhà nè, mày ký giùm bà. – Cô Thắm nhìn cái phong bì trên đùi Mai. – Ủa, giấy tờ nhà đất hả? Cất kỹ nghen, phòng này đông người lắm.
Mai đứng dậy ký giấy. Lúc cô ngồi xuống, cái phong bì trên đùi cô trượt xuống sàn, cái nắp gài bung ra, và mấy tờ giấy bên trong tuột ra một nửa.
Tờ trên cùng là một tờ giấy khổ A4, đánh máy, có quốc hiệu, có dấu đỏ của văn phòng công chứng ở góc dưới. Ở giữa trang, chữ in hoa đậm:
DI CHÚC.
Mai cúi xuống nhặt. Cô không định đọc. Cô định nhét lại vô phong bì. Nhưng mắt cô đã kịp thấy dòng ngày tháng ở trên cùng, và tên của cô ở dòng thứ mười một.
Ngày ký là một ngày tháng Mười, hai năm trước. Cái tháng bà Tư nhập viện lần đầu vì suy tim, nằm mười ngày ở chính khoa này.
Dòng thứ mười một viết: "...để lại toàn bộ quyền sử dụng đất và nhà ở gắn liền với đất tại hẻm 13, đường ven rạch Bần... cho cháu ngoại là Huỳnh Ngọc Mai..."
Mai đọc dòng đó ba lần. Rồi cô nhét tờ giấy lại vô phong bì, gài nắp, ôm cái phong bì vô ngực, đi ra hành lang, ngồi xuống cái ghế sắt dài ở cuối dãy, chỗ hồi tháng Năm Bí ngồi đung đưa chân nói chuyện với con mèo găng tay.
Cô ngồi đó rất lâu.
Hai năm trước, bà đã làm di chúc. Đã ra văn phòng công chứng. Đã ký, đã đóng dấu. Cái nhà đã để lại cho cô từ hai năm trước, ngay từ cái lần bà nằm viện đầu tiên, khi cô ngồi canh bà mười đêm liền và bà nắm tay cô nói "bà làm khổ con".
Vậy mà tháng Năm, trong chính cái phòng sáu giường này, bà đã nói: "Con lấy chồng, bà ra phòng công chứng làm giấy cho con cái nhà. Bằng không, bà bán quách cho thằng Ba."
Cô không rành luật, nhưng cô biết di chúc là thứ người ta có thể sửa, có thể hủy, người lập di chúc còn sống thì muốn đổi lúc nào cũng được. Bà có thể đổi ý thật, nếu cô không lấy chồng. Có thể. Nhưng bà đã giữ cái phong bì này trong hộc tủ thờ hai năm, cái hộc từng cất chìa khóa thứ ba của ông ngoại, không hề nói với ai. Và bà đã dặn "con đừng mở".
Bà không cần cô lấy chồng để giữ cái nhà. Bà chỉ cần cô lấy chồng.
Mai nhìn ra cửa sổ cuối hành lang. Bãi xe dưới kia đã đông, nắng sáng chiếu lóa trên mấy mui xe hơi. Cô nghĩ tới tất cả những gì đã xảy ra từ tháng Năm. Cái nắp chai nước vặn sẵn. Ba điều và hai điều thêm. Bốn mâm cơm. Cái chìa thứ ba. Cái võng. Cái gờ. Cái bó bột. Cái đêm cúp điện ở bến nước. Mọi thứ bắt đầu từ một cái điều kiện. Và cái điều kiện đó là giả.
Cô không biết mình giận hay không. Cô thấy giống như vừa leo hết một cái cầu thang dài trong bóng tối, tới đầu cầu thang bật đèn lên thì thấy cái cầu thang được dựng sẵn từ trước, chỉ chờ mình leo.
Trí quay lại lúc mười giờ rưỡi, cầm một hộp cháo sườn với một chai nước lọc đã vặn sẵn nắp. Anh thấy cô ngồi ở cuối hành lang, ôm cái phong bì nâu, và anh đứng khựng lại cách cô mấy bước.
Mai nhìn anh. Cô thấy mắt anh nhìn cái phong bì. Cô thấy anh nhận ra nó.
Cô không hỏi. Chưa. Cô đứng dậy, cầm hộp cháo, nói "cảm ơn anh", rồi đi vô phòng, ngồi bên giường bà, ăn từng muỗng cháo mà không biết mùi vị gì.
Trí đứng ở cửa phòng một lúc, rồi đi ra hành lang, ngồi xuống đúng cái ghế sắt cô vừa ngồi.
Bà Tư nằm viện bảy ngày.
Ngày thứ nhất và ngày thứ hai, bà ngủ nhiều, thở oxy, đi tiểu nhiều vì thuốc lợi tiểu, hai cổ chân xẹp dần. Mai xin nghỉ phép, ngồi canh bà cả ngày. Trí lo Bí, lo cơm, lo hai lượt vô viện mỗi ngày. Hai người nói với nhau những câu cần nói: bà ăn được chưa, con Bí ngủ chưa, ngày mai có mưa không. Không ai nói tới cái phong bì nâu, giờ nằm trong ngăn kéo cái tủ đầu giường bệnh viện, dưới cái khăn.
Chiều ngày thứ ba, bà Tư tỉnh hẳn. Bác sĩ cho tháo oxy. Bà ngồi dậy được, ăn được nửa chén cháo, đòi coi cải lương trên điện thoại. Trí đưa Bí về sớm. Trong phòng chỉ còn Mai với bà, với năm bệnh nhân khác đang ngủ trưa.
Mai mở ngăn kéo tủ, lấy cái phong bì nâu ra, đặt lên mép giường bà.
Bà Tư nhìn cái phong bì. Rồi nhìn cháu. Bà không hỏi "con mở hả". Bà biết.
– Bà làm hồi nào? – Mai hỏi, nhỏ.
– Hồi bà nằm viện lần đầu. Hai năm trước. – Bà Tư nhìn ra cửa sổ. – Bà nằm đây mười ngày, bà nghĩ, bà mà đi thì thằng Ba nó bán nhà, con ra đường. Bà ra viện được ba bữa là bà kêu xe ôm chở ra công chứng, nói với cô Bảy là đi tái khám.
– Vậy tháng Năm...
– Tháng Năm bà gạt con.
Mai nhìn bà. Bà không né mắt cô.
– Bà gạt con một chuyện, – bà Tư nói, chậm, từng chữ. – Bà nói con không lấy chồng thì bà bán nhà. Bà không bán. Bà chưa bao giờ tính bán. Bà gạt con vì bà biết con. Con mà biết cái nhà đã là của con rồi, con sẽ ở một mình trong cái nhà đó tới già, đi ca về một mình, ăn cơm một mình, có đứa nào gõ cửa con cũng không mở. Bà biết con. Bà nuôi con từ năm con mười lăm tuổi.
– Bà có thể nói với con.
– Bà có nói. Năm năm nay bà nói hoài. Con có nghe đâu.
Mai im. Bà nói đúng. Năm năm nay, mỗi lần bà nhắc tới chuyện chồng con, cô đều cười, đều nói "thời bà khác", đều đứng dậy đi rửa chén.
– Bà gạt con một chuyện, – bà Tư nói lại. – Mà bà không gạt con chuyện thằng Trí. Thằng đó tử tế thiệt. Cái đó con tự thấy, bà không cần nói.
Mai cầm cái phong bì lên, xoay xoay trong tay. Cô thấy cái giận trong ngực mình đang xẹp xuống, như cái bong bóng găng tay để qua đêm. Cô thương bà. Cô vẫn thương bà. Bà già tám mươi bốn tuổi này, bốn mươi năm bán bánh, tính cái gì cũng tính trước người ta ba nước, đã tính cho cô một nước mà cô không thấy.
Cô định nói "con không giận bà". Cô đã mở miệng.
Bà Tư nắm lấy tay cô trước.
– Mà con đừng giận thằng Trí, – bà nói. Giọng bà mệt, mắt bà đã díp lại vì thuốc. – Nó không chịu đâu. Bà ép nó. Bà biểu nó hứa với bà là chưa nói với con. Nó nói nó phải nói, nó nói con ghét người ta nói dối. Bà nói bà già rồi, bà xin nó đúng một chuyện. Nó mới chịu.
Cái phong bì đứng yên trong tay Mai.
– Anh Trí biết? – Cô hỏi. – Anh Trí biết chuyện cái di chúc này? Từ hồi nào?
Bà Tư không trả lời. Mắt bà đã nhắm lại. Hơi thở bà đều dần, đều dần, cái kẹp đo trên ngón tay nhấp nháy con số tám mươi tám.
– Bà, – Mai lay nhẹ vai bà. – Bà. Anh Trí biết cái gì?
Bà Tư nói một câu cuối cùng, trong cái giọng nửa thức nửa ngủ của người già uống thuốc:
– Con hỏi nó. Nó biết con... từ trước bà nữa.
— Hết chương 14 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe