AI Truyện
Mẻ lò cuối ở vườn măng cụt Lái Thiêu

🏠 Gia đình & vả mặt

Xe khách lên Lộc Ninh

Mẻ lò cuối ở vườn măng cụt Lái Thiêu · Chương 7/20 · Sáng tác: AI Truyện

📖 9 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 7: Xe khách lên Lộc Ninh

– Ổng đi Lộc Ninh, – chú Chín Cò nói, tay vẫn cầm cái cờ lê, mắt không ngẩng lên khỏi cái bánh xe đạp. – Bốn giờ sáng ổng gõ cửa tiệm chú. Ổng biểu chú chở ra bến xe. Chú chở.

Út Khuê đứng trước cái tiệm sửa xe đạp đầu chợ Lái Thiêu, thở không ra hơi. Cô đã chạy bộ từ nhà ra, dép đứt một quai. Bảy giờ sáng, chợ đã đông, mùi bánh bò nướng của bà Út Hên bay qua từ sạp bên kia.

– Chú để ba con đi một mình? Ba con không thấy đường, chú Chín!

– Chú dặn thằng lơ xe rồi. Thằng đó con của bạn chú. Nó thả ổng ở chợ Lộc Ninh, kêu xe ôm chở ổng vô tới nơi. Chú gọi rồi, nó nói ổng xuống xe lúc bảy giờ kém. Không sao đâu con.

– Vô tới nơi là nơi nào?

Chú Chín Cò đặt cái cờ lê xuống. Chú bảy mươi hai tuổi, ốm nhom, da đen như cột nhà, cái cổ dài nên hồi trẻ người ta gọi là Cò. Hồi cái lò còn đốt, chú là thợ đốt lò giỏi nhứt Lái Thiêu. Lò tắt, chú mở tiệm sửa xe đạp, cái tiệm nhỏ bằng hai chiếc chiếu.

– Nhà ông Sáu Vạn.

Út Khuê đứng im. Chú Chín Cò lấy cái giẻ lau tay, lau lâu tới mức cô biết chú không muốn nói tiếp.

– Sao chú biết nhà ông Sáu ở trên đó?

– Chú… có lên đó một lần. Lâu rồi.

– Hồi nào?

– Lâu rồi. – Chú cầm cái cờ lê lên lại. – Con đi rước ba con về đi. Đừng để anh Hai con đi. Anh Hai con đi là to chuyện.

Cô gọi cho Nhân lúc bảy giờ mười lăm. Bảy giờ bốn mươi, chiếc xe bảy chỗ cũ màu bạc của anh dừng trước tiệm sửa xe. Anh đã xin nghỉ công trường một ngày, mặc cái áo thun, quần jean, như đi chơi. Cô leo lên ghế phụ, chưa cài dây an toàn đã nói.

– Anh đừng hỏi gì hết. Chạy đi.

Nhân chạy. Ra quốc lộ mười ba, xe tải container nối đuôi nhau, bụi đỏ bám lên kính. Út Khuê ngồi nhìn ra cửa sổ, hai tay ôm cái túi xách trong lòng. Cô gọi về nhà. Má bắt máy liền.

– Có chưa?

– Dạ có rồi má. Ba đi Lộc Ninh, chú Chín chở ra bến. Con đang đi rước.

Đầu dây bên kia im một nhịp.

– Lộc Ninh, – bà Tư lặp lại. – Ừ. Đi đi con.

Chỉ vậy thôi. Má không hỏi ba lên Lộc Ninh làm gì, không hỏi con đi với ai. Út Khuê cúp máy, ngồi nhìn cái điện thoại trên đùi. Má biết. Cô nghĩ vậy. Má biết ba đi đâu, và má biết vì sao.

Chưa kịp cất điện thoại thì nó rung lần nữa. Anh Hai.

– Út, em đang ở đâu? Anh chạy theo.

– Anh đừng chạy theo. Em đi với bạn em rồi.

– Bạn nào? Ba đi Lộc Ninh làm gì? Ba lên đó gặp ai?

Cô im. Cô không biết phải nói sao. Cô chỉ biết một điều: chú Chín Cò, người lúc nào cũng cười cợt với anh Hai, sáng nay nhắc tới tên anh mà không dám ngước mắt lên.

– Anh Hai, – cô nói, – anh ở nhà với má. Ba không sao. Em hứa.

– Út, ba đi là tại anh. Tối qua ba nói…

– Em biết. Em sẽ đưa ba về.

– Ba lên đó gặp ông Sáu Vạn phải không?

Cô không trả lời. Đầu dây bên kia im rất lâu, lâu tới mức cô tưởng anh đã cúp máy. Rồi cô nghe anh thở ra, một tiếng thở dài như người bị đánh trúng chỗ đau cũ.

– Ừ, – anh nói. – Em đi đi.

Anh cúp máy trước. Út Khuê ngồi nhìn con đường trước mặt. Cô có cảm giác cả nhà cô đều biết một điều gì đó, trừ cô.

– Anh Hai em đòi đi, – cô nói với Nhân. – Em không cho. Chú Chín Cò cũng nói đừng cho ảnh đi.

– Ừ.

– Chị Ba thì ở nhà với má. Thằng Sóc cũng đòi đi, em la nó.

– Ừ.

– Anh ừ hoài vậy?

– Em kêu anh đừng hỏi mà.

Út Khuê bật cười, rồi lại im. Qua khỏi Chơn Thành, đường bớt xe, hai bên toàn rừng cao su thẳng tắp, lá non xanh mượt. Nhân bật máy lạnh nhỏ lại, kéo cửa kính xuống một chút. Gió rừng cao su có mùi mủ chua chua.

– Nhân.

– Ừ.

– Em hỏi anh một câu được không?

– Em hỏi đi.

– Hồi chị Bông kể chuyện ba anh mất nhà, anh mấy tuổi?

– Mười hai.

– Anh có ghét ba em không? Lúc đó.

Nhân nhìn đường một lúc lâu. Một chiếc xe máy chở hai bao điều vượt lên, lạng qua mặt.

– Lúc đó anh ghét. Anh nằm trên cái võng ở rẫy, nghĩ nếu sau này anh gặp ông Tư Khởi, anh sẽ nói gì. Anh nghĩ ra cả trăm câu. Câu nào cũng hay.

– Rồi sao?

– Rồi anh gặp ông Tư Khởi thiệt. Ổng quét anh xuống rạch bằng cây sào hái trái. Anh chưa kịp nói câu nào.

Út Khuê cười lần nữa, lần này cười không dứt được, cười tới chảy nước mắt. Nhân cũng cười. Chiếc xe chạy qua một khúc cua, nắng rọi xiên qua hàng cao su, lốm đốm trên mặt hai người.

– Còn bây giờ? – cô hỏi, khi đã thôi cười.

– Bây giờ anh muốn biết thiệt sự hồi đó chuyện gì xảy ra. Ba anh không nói. Ba em không nói. Chị Bông chỉ nói ba không mua củi ướt. Chú Chín Cò thì em thấy rồi đó, chú biết nhà ba anh. Chú lên đó làm gì?

Út Khuê không trả lời được.

Điện thoại Nhân reo. Anh bấm nghe qua cái loa trên xe.

– Nhân hả? – Giọng một người đàn bà miền Đông, to, gấp. – Em đi đâu đó? Có ông già nào đứng trước cổng nhà mình từ hơn bảy giờ tới giờ. Ổng mù, ổng nói ổng tìm ba. Chị hỏi ổng tên gì, ổng nói ổng tên Khởi.

– Dạ, em đang lên đó chị Bông. Ba đâu chị?

– Ba ra rẫy rồi. Chị nói ông già đó vô nhà ngồi uống nước chờ, ổng không vô, ổng biểu chị chỉ đường ra rẫy. Chị không biết làm sao, chị biểu thằng Tí con chị dắt ổng ra. Ổng là ai vậy Nhân?

Nhân nhìn Út Khuê.

– Ổng là ba của bạn gái em, chị.

Đầu dây bên kia im một nhịp thật dài.

– Ông Tư Khởi?

– Dạ.

– Trời đất ơi, – chị Bông nói, rồi cúp máy.

Mười một giờ, xe tới. Nhà chị Bông nằm sâu trong một con đường đất đỏ, hai bên rẫy điều. Mùa này điều đã hết trái, chỉ còn lá, lá điều già màu xanh thẫm, lá non màu đồng đỏ. Cái nhà cấp bốn mái tôn, sân đất có giàn mướp, một con chó lông vàng nằm ngủ dưới gầm bàn. Chị Bông đứng chờ ở cổng, người to, tóc búi, mặc áo bà ba màu nâu. Chị nhìn Út Khuê từ đầu tới chân một cái, rồi nhìn em trai.

– Ra rẫy đi. Hai ông già ngồi ngoài đó hai tiếng rồi. Thằng Tí nói không ai nói câu nào.

Út Khuê chào chị Bông, cúi đầu thật thấp. Chị Bông gật đầu một cái, không cười, không giận. Rồi khi cô quay đi, chị nói theo, giọng nhỏ lại.

– Con bé này ngó cũng được.

Rẫy điều nằm trên một cái dốc thoai thoải phía sau nhà. Đất đỏ bám vô dép, nắng trưa chói chang nhưng dưới tán điều thì mát. Nhân đi trước, Út Khuê đi sau. Đi chừng trăm thước, Nhân dừng lại, đưa tay ra phía sau ra hiệu cho cô đứng yên.

Dưới một gốc điều lớn, có hai cái ghế đẩu bằng gỗ, cách nhau chừng hai thước. Giữa hai cái ghế là một gốc cây điều cũ đã cưa ngang, mặt gốc phẳng như cái bàn. Trên đó có một bình trà bằng nhôm, hai cái ly nhựa, và một cái chén.

Út Khuê nhận ra cái chén ngay cả từ khoảng cách đó. Men trắng ngà, con gà trống màu đỏ cam. Cái chén của anh Hai. Cái chén con gà nhắm mắt.

Ba cô ngồi trên một cái ghế, lưng thẳng, hai tay úp lên đầu gối, mặt quay về hướng gốc điều. Ông không có gậy. Áo bà ba trắng của ông dính đầy bụi đỏ ở gấu.

Ông già ngồi trên cái ghế kia, Út Khuê chưa thấy bao giờ. Ông ốm, cao, cao hơn ba cô cả cái đầu dù đang ngồi. Tóc ông bạc trắng, cắt ngắn sát da đầu. Một chân ông duỗi thẳng ra phía trước, cứng đơ, cái chân bị gì đó từ lâu. Mặt ông đen sạm, nhăn như vỏ cây điều, hai con mắt sáng, sáng một cách lạ lùng ở một ông già tám mươi tuổi. Ông đang nhìn cái chén.

Không ai nói câu nào. Gió thổi qua rẫy điều, lá xào xạc. Có tiếng gà gáy ở xa, ở một nhà nào đó bên kia dốc.

Nhân đứng im. Út Khuê thấy bàn tay anh nắm lại bên hông. Cô đưa tay ra, nắm lấy bàn tay đó. Lần đầu tiên anh không nắm lại. Anh đang nhìn ba mình.

Thằng nhỏ tên Tí, chừng mười tuổi, ngồi chồm hổm dưới một gốc điều khác cách đó một quãng, tay cầm cành cây vẽ vẽ xuống đất. Thấy cậu Nhân, nó đứng dậy định chạy lại. Nhân lắc đầu. Nó ngồi xuống lại.

Một lúc lâu, có lẽ năm phút, có lẽ mười phút, ông già cao ốm đưa tay ra. Ông cầm cái chén lên, xoay xoay trong lòng bàn tay, đưa lên gần mắt, nhìn con gà. Rồi ông đặt nó xuống, chậm rãi, đúng chỗ cũ.

– Ông vẽ cái này năm nào? – ông Sáu Vạn hỏi. Giọng ông khàn, chậm, giọng của người ít nói.

– Tết chín mươi bảy, – ba cô trả lời.

– Cho thằng Trọng?

– Cho thằng Trọng.

Ông Sáu Vạn gật đầu. Ông nhìn ra rẫy điều, nhìn thẳng về phía hai người đang đứng dưới gốc cây. Út Khuê biết ông thấy họ. Ông không nói gì về họ. Ông quay lại với ba cô.

– Hai mươi chín năm, – ông nói. – Ông Tư. Hai mươi chín năm tui chờ. Tui không chờ ông tới. Tui chờ ông nói.

Ba cô không trả lời.

– Ông tới đây, đem theo cái chén này, đi một mình, không gậy. – Ông Sáu Vạn rót trà vô cái ly nhựa, đẩy qua phía ba cô. – Ông tới để nói thiệt chưa?

Gió ngừng thổi. Út Khuê nghe tim mình đập trong lỗ tai. Cô thấy ba cô ngồi thẳng lưng hơn nữa, như người ta ngồi trước bàn thờ. Rồi ông nói, giọng không lớn, nhưng rẫy điều im tới mức từng chữ rơi xuống rõ ràng như hột điều rơi xuống đất.

– Bữa đó không phải củi ướt.

— Hết chương 7 —

Mục lục Mẻ lò cuối ở vườn măng cụt Lái Thiêu

  1. 1Đám giỗ ông cố10 phút
  2. 2Năm trăm triệu9 phút đọc
  3. 3Gỏi măng cụt10 phút đọc
  4. 4Cây sào hái trái9 phút đọc
  5. 5Mùa hái10 phút đọc
  6. 6Cái mõ tre9 phút đọc
  7. 7Xe khách lên Lộc Ninh9 phút đọc
  8. 8Đêm hai mươi tháng Mười Một10 phút đọc
  9. 9Con gà nhắm mắt9 phút đọc
  10. 10Bà Tư phát trực tiếp10 phút đọc
  11. 11Tiền học thêm9 phút đọc
  12. 12Trong bụng lò9 phút đọc
  13. 13Sửa lò9 phút đọc
  14. 14Thằng Bi về ngoại9 phút đọc
  15. 15Một tỷ hai9 phút đọc
  16. 16Phần có cái lò9 phút đọc
  17. 17Củi cao su9 phút đọc
  18. 18Ba ngày ba đêm9 phút đọc
  19. 19Ra lò10 phút đọc
  20. 20Tám mươi tuổi11 phút đọc

Về truyện này

Mẻ lò cuối ở vườn măng cụt Lái Thiêu là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Khánh của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →