AI Truyện
Mẻ lò cuối ở vườn măng cụt Lái Thiêu

🏠 Gia đình & vả mặt

Ba ngày ba đêm

Mẻ lò cuối ở vườn măng cụt Lái Thiêu · Chương 18/20 · Sáng tác: AI Truyện

📖 9 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 18: Ba ngày ba đêm

Que diêm đầu tiên, ông Tư không quẹt. Ông đưa hộp diêm cho anh Hai Trọng.

Năm giờ sáng ngày mười tám tháng Tám, trời còn tím ngắt. Cả nhà đứng trước miệng bầu đốt, chỗ chú Chín Cò đã chất sẵn một đống củi mồi, giấy vụn, lá dừa khô. Ông Sáu Vạn đứng bên trái, chống gậy. Bà Tư đứng bên phải, tay cầm cái dùi mõ. Ông Tư đứng giữa, hai tay cầm hộp diêm, chìa ra phía con trai.

– Ba…

– Quẹt đi.

Anh Hai cầm hộp diêm. Tay anh run tới mức que diêm đầu tiên gãy. Que thứ hai cháy được, anh khom người đưa vô đống lá dừa. Lửa bén, lách tách, rồi bùng lên vàng rực, rọi lên mặt mười mấy con người đang đứng quanh. Bà Tư gõ cái mõ ba tiếng.

Ngày đầu là ngày của chú Chín Cò. Chú ngồi trên khúc gỗ trước bầu đốt, đút củi vô từng thanh, chậm rãi, đều đặn, như đút cơm cho con nít. Lửa nhỏ trước cho lò ấm lên từ từ. Gạch nguội mười tám năm, ông Tư nói, phải cho nó tỉnh dậy từ từ, đánh thức gấp là nó giật mình mà nứt. Tới trưa, ống khói bắt đầu nhả khói, khói trắng đục, có mùi hơi nước. Ông Sáu Vạn đứng nhìn ống khói, nói khói này là gạch đang thở ra nước, tới chiều khói trong là được. Tới chiều khói trong thiệt.

Anh Hai không ngủ đêm đầu. Không phải phiên của anh, nhưng anh ngồi cạnh chú Chín Cò, coi chú đút củi. Chú không đuổi. Gần sáng, chú đưa cho anh thanh củi.

– Đút đi. Cho quen tay.

Anh đút. Hơi nóng phả ra từ miệng bầu, rát mặt.

Ngày thứ hai, lửa đã đỏ lừ trong bầu, nhìn vô thấy đỏ như cục than hồng khổng lồ. Ông Sáu nhìn qua lỗ thăm ở khoang đầu, nói lửa đã đi tới. Bốn giờ chiều, ông Tư kêu anh Hai lại.

– Từ giờ là của mày. Lỗ số một, số hai trước. Nhìn lửa. Vàng là non. Trắng là tới. Trắng hơi xanh là đủ. Đủ thì qua cặp lỗ kế. Hiểu không?

– Dạ hiểu.

– Hai mươi hai cái lỗ. Mười một cặp. Tới sáng ngày kia là phải xong cặp cuối. Hụt một cặp là hư một khoang.

– Dạ.

Anh Hai đứng dậy, đi tới cặp lỗ số một, số hai. Anh mở cái nắp gạch che lỗ, nhét một thanh củi cao su vô. Lửa bên trong liếm lấy thanh củi ngay lập tức, cháy phừng. Anh nhìn vô. Lửa vàng.

Dông tới lúc mười giờ đêm.

Trước đó trời im như chết. Không một ngọn gió. Mấy cái lá măng cụt đứng yên, ve ngừng kêu. Ông Sáu Vạn ngồi trên ghế đẩu cạnh lỗ thăm khoang giữa, ngước nhìn trời, nói sắp tới rồi. Chị Ba Lài với chị Bông đã đem hết đồ đạc trong chái vô nhà. Nhân với Toản đã lấy dây kẽm cột thêm mấy chỗ mái tôn. Bà Bảy Xiêm đã về nhà đóng cửa sổ, rồi lại chạy qua, mang theo hai cái áo mưa với một nồi cháo gà.

Rồi gió tới, từ phía sông Sài Gòn, thổi một phát như ai đó xô cánh cửa. Hàng măng cụt rạp xuống. Tôn trên mái lò kêu lên một tràng. Rồi mưa, không phải từng giọt, mà từng mảng, tạt ngang, đập vô thân lò kêu xèo xèo.

Anh Hai đang ở cặp lỗ số năm, số sáu. Lửa vừa chuyển trắng.

– Tôn! – Nhân la. – Tôn đầu lò tốc rồi!

Anh Hai ngẩng lên. Một tấm tôn ở phía trên bầu đốt bị gió giật lên một góc, đập phành phạch như cánh con chim bị thương. Mưa xối qua chỗ hở, chảy xuống vòm lò. Nước chạm vô gạch đang nóng mấy trăm độ, bốc hơi trắng xóa, kêu xì xì như rắn.

– Nước vô vòm là nứt! – ông Sáu Vạn la lớn, đứng bật dậy, quên cả cái chân cứng. – Đậy lại! Đậy lại liền!

Nhân chạy đi lấy thang. Toản chạy theo. Chú Chín Cò chạy vô nhà lôi ra tấm bạt xanh mua từ hôm trước. Thằng Sóc ôm một bó dây kẽm. Anh Hai đứng ở lỗ số năm, cầm thanh củi, nhìn về phía đầu lò. Anh bước một bước.

– Hai! – Ông Tư la. Ông ngồi dưới mái hiên của cái chái, ông không thấy gì, nhưng ông nghe tiếng chân anh. – Mày đứng đó! Mày giữ lửa! Chuyện đó để người khác!

Anh Hai đứng lại. Anh quay về cái lỗ. Anh mở nắp, nhét củi. Lửa trắng. Anh đóng nắp.

Ở đầu lò, Nhân đã leo lên thang, Toản đứng dưới giữ thang, hai tay bám chặt, mưa xối vô mặt. Chú Chín Cò với chị Ba Lài, chị Thơ, cô Út đứng thành một hàng, đưa tấm bạt lên. Nhân chụp lấy góc bạt, kéo trùm lên chỗ tôn tốc, gió giật tấm bạt phồng lên như cánh buồm, suýt kéo anh rơi khỏi thang. Thằng Sóc leo lên cái thang thứ hai, đưa dây kẽm cho Nhân. Hai đứa cột, gió giật, cột lại, gió giật, cột nữa. Bà Bảy Xiêm đứng dưới chân thang la "cột chặt vô, cột chặt vô" như huấn luyện viên.

Mười lăm phút sau, tấm bạt nằm im. Nước thôi chảy xuống vòm. Nhân tuột xuống thang, ướt như chuột lột, ngồi bệt xuống đất thở. Toản ngồi xuống cạnh anh. Hai người đàn ông chưa từng nói với nhau quá năm câu, ngồi cạnh nhau dưới mưa, cười như hai thằng điên.

Ông Sáu Vạn đi tới lỗ thăm khoang đầu, ghé mắt nhìn. Ông nhìn rất lâu. Rồi ông quay lại, gật đầu với ông Tư, dù ông Tư không thấy.

– Không nứt, – ông nói. – Ông Tư. Không nứt.

Ông Tư ngồi dưới mái hiên chái, hai bàn tay nắm chặt cây gậy, thở ra một hơi rất dài.

Mưa không dứt. Tới nửa đêm vẫn mưa. Một giờ sáng vẫn mưa.

Một giờ sáng là lúc anh Hai Trọng bắt đầu thấy nó.

Nó không tới như một cơn buồn ngủ. Nó tới như một cái chăn, nhẹ, ấm, trùm lên đầu anh từ phía sau. Tiếng mưa trên mái tôn đều đều. Hơi nóng từ lò phả ra ấm áp. Anh đã thức gần hai ngày hai đêm. Anh đứng ở cặp lỗ số mười một, mười hai, khoang giữa, cầm thanh củi, và cái chăn đó trùm xuống.

Anh nhắm mắt một giây.

– Cậu Hai!

Anh giật mình. Thằng Bi đứng trước mặt anh, mặc cái áo mưa của bà Bảy Xiêm dài tới mắt cá chân, tay cầm cuốn tập vẽ bọc ni lông. Nó đã lẻn ra từ trong nhà.

– Bi? Sao con chưa ngủ?

– Con muốn vẽ cái lò lúc có lửa. – Thằng Bi nhìn anh. – Cậu Hai, cậu buồn ngủ hả?

– Không.

– Cậu buồn ngủ. Mắt cậu nhắm lại.

Anh Hai không cãi. Thằng Sóc từ đâu đi tới, ướt nhẹp, ngồi xuống bên kia anh. Nó không nói gì. Nó chỉ ngồi đó.

– Cậu Hai, – thằng Bi hỏi, – sao con gà gáy vô buổi sáng?

– Hả?

– Con gà. Sao nó gáy buổi sáng mà không gáy buổi tối?

Anh Hai nhìn thằng cháu. Thằng nhỏ hỏi thiệt, mắt tròn xoe.

– Tại… tại nó thấy trời sáng.

– Lỡ nó ngủ quên thì sao? Lỡ nó không thấy trời sáng?

Anh Hai không trả lời được. Thằng Sóc quay qua nhìn ba.

– Thì có con gà khác gáy, – thằng Sóc nói. – Con này gáy, con kia nghe, nó thức.

Anh mở nắp lỗ số mười một, nhét một thanh củi vô. Anh nhìn vô lỗ. Lửa vàng. Còn vàng. Anh nhét thêm một thanh.

Hai đứa nhỏ ngồi với anh tới sáng. Thằng Bi hỏi đủ thứ. Hỏi lửa sao màu vàng, sao màu trắng. Hỏi củi cao su có mủ không. Hỏi cậu Hai hồi nhỏ có bị bà ngoại đánh không. Thằng Sóc thì kể chuyện. Kể chuyện cái bàn xoay. Kể chuyện ông nội đặt tay lên tay nó. Kể chuyện cục đất thôi la. Có lúc anh Hai nghe mà mắt díp lại, thì thằng Bi lấy tay vỗ vô má anh, nhẹ nhàng, như vỗ một con mèo.

Bà Tư gõ mõ mỗi tiếng một lần, theo giờ ông Sáu Vạn báo. Hai tiếng. Ba tiếng. Ba giờ rưỡi, mưa ngớt.

Bốn giờ kém mười lăm, anh Hai mở nắp lỗ số mười một lần nữa. Anh nhìn vô.

Lửa trắng. Trắng hơi xanh, cái màu xanh lạnh lẽo như trăng mà anh đã không thấy từ năm hai mươi hai tuổi. Trong cái lửa đó, anh thấy lờ mờ hình dáng mấy cái lu, mấy cái bao nung, nằm im, đỏ rực, trong suốt như làm bằng ánh sáng.

– Bác Sáu, – anh gọi, giọng khàn đặc. – Bác coi giùm con.

Ông Sáu Vạn chống gậy đi tới. Ông cúi xuống, ghé mắt vô cái lỗ. Ông nhìn rất lâu. Thằng Sóc với thằng Bi nín thở.

Ông đứng thẳng dậy.

– Tới, – ông nói.

Anh Hai Trọng đóng nắp lỗ. Anh đứng đó, hai tay buông thõng. Anh nhìn lên trời. Phía đông, sau rặng măng cụt, trời đã bắt đầu xám lại. Ở đâu đó bên kia rạch, có một con gà gáy.

Đêm thứ ba trôi đi chậm hơn, mà nhẹ hơn. Lửa đi tới khoang đuôi. Anh Hai không ngủ. Có lúc anh ngồi xuống bậc gạch, thằng Sóc ngồi cạnh. Có lúc chị Thơ đi ra, đưa anh một ly cà phê đen, đứng nhìn anh uống, rồi đi vô. Có lúc ông Sáu ngồi cạnh anh, không nói gì, chỉ ngồi. Ông Tư thì ngồi suốt ba đêm dưới mái hiên chái, không ai kêu được ông vô ngủ.

Sáng ngày hai mươi mốt, cặp lỗ cuối cùng, số hai mươi mốt, hai mươi hai, lửa chuyển trắng xanh. Chú Chín Cò với anh Hai bắt đầu bịt lò: lấy gạch với đất sét trát kín miệng bầu, trát kín từng cái lỗ châm củi, để lò tự nguội trong ba ngày.

Ông Tư chống gậy đứng dậy. Ông đi tới cái lỗ số mười một, cái lỗ của khoang giữa. Ông đặt bàn tay lên mấy viên gạch vừa trát, còn ấm nóng. Ông đứng đó, như đứng nghe.

– Không nghe tiếng nứt, – ông nói. – Hai. Mày nghe không? Không có tiếng gì hết.

– Dạ, con nghe, ba.

Ông Tư gật đầu. Rồi ông mỉm cười, cái cười đầu tiên cả nhà thấy rõ ràng trên mặt ông từ đầu mùa măng cụt.

Rồi bàn tay ông trượt khỏi mặt gạch. Cây gậy tre rơi xuống nền đất. Ông Tư khuỵu xuống, nghiêng về một bên, ngã vào vòng tay anh Hai Trọng vừa kịp chụp lấy.

— Hết chương 18 —

Mục lục Mẻ lò cuối ở vườn măng cụt Lái Thiêu

  1. 1Đám giỗ ông cố10 phút
  2. 2Năm trăm triệu9 phút đọc
  3. 3Gỏi măng cụt10 phút đọc
  4. 4Cây sào hái trái9 phút đọc
  5. 5Mùa hái10 phút đọc
  6. 6Cái mõ tre9 phút đọc
  7. 7Xe khách lên Lộc Ninh9 phút đọc
  8. 8Đêm hai mươi tháng Mười Một10 phút đọc
  9. 9Con gà nhắm mắt9 phút đọc
  10. 10Bà Tư phát trực tiếp10 phút đọc
  11. 11Tiền học thêm9 phút đọc
  12. 12Trong bụng lò9 phút đọc
  13. 13Sửa lò9 phút đọc
  14. 14Thằng Bi về ngoại9 phút đọc
  15. 15Một tỷ hai9 phút đọc
  16. 16Phần có cái lò9 phút đọc
  17. 17Củi cao su9 phút đọc
  18. 18Ba ngày ba đêm9 phút đọc
  19. 19Ra lò10 phút đọc
  20. 20Tám mươi tuổi11 phút đọc

Về truyện này

Mẻ lò cuối ở vườn măng cụt Lái Thiêu là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Khánh của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →