Chương 4: Cây sào hái trái
Út Khuê dặn Nhân ba lần: đậu xe ở công trường, đi bộ theo bờ rạch, tuyệt đối đừng đi ngang cổng.
– Nhà em có con chó vện, – cô nói trong điện thoại. – Nó sủa là ba em biết liền. Ba em không thấy đường nhưng nghe được tiếng con kiến bò.
– Em làm như anh đi ăn trộm.
– Thì anh đi ăn trộm chớ gì. Ăn trộm con gái người ta.
Nhân cười ở đầu dây. Cái tiếng cười trầm, hơi khàn vì nắng công trường, làm Út Khuê quên mất mình đang đứng trong nhà tắm nói nhỏ như ăn trộm thiệt.
Một năm trước, cũng vào đầu mùa măng cụt, có một nhóm kỹ sư mặc áo phản quang tới gõ cổng, xin phép cắm một cái cọc mốc sát hàng rào bông trang. Út Khuê ra tiếp vì ba má đi đám cưới. Người trưởng nhóm cao, đen, đội nón bảo hộ trắng, nói chuyện giọng miền Đông, chữ "không" nói thành "hông" mà chữ "rồi" lại nói rõ ràng như người Bắc. Anh ta đo đạc xong, xin một ly nước, uống hết, rồi chỉ vô cây măng cụt cổ ở góc vườn hỏi cây đó bao nhiêu tuổi. Cô nói không ai biết, chắc hơn trăm năm. Anh ta đứng nhìn cây đó lâu hơn nhìn cô. Cô thấy vậy mà thích.
Ba tháng sau cô mới biết tên đầy đủ của anh là Võ Hoài Nhân, ba anh là ông Võ Văn Vạn, mà người Lái Thiêu lớn tuổi gọi là ông Sáu Vạn. Cái tên đó cô đã nghe từ hồi còn nhỏ xíu, nhưng chưa bao giờ nghe như tên người. Trong nhà cô, nó là một câu nói. Nồi cơm khét, má nói "lửa gì mà như củi ông Sáu". Ai hứa mà không làm, ba nói "hứa kiểu Sáu Vạn". Cô lớn lên tưởng Sáu Vạn là một thứ gì đó, như ông Kẹ, như con ma da dưới rạch.
Khi cô hỏi má ông Sáu Vạn là ai, má chỉ nói: "Người làm hư mẻ lò lớn nhứt của ba mày, năm mày đẻ. Mua củi ướt. Hỏi chi?" Rồi má đi xuống bếp.
Sáng Chủ nhật đó, Út Khuê về vườn sớm, phụ má rửa hộp gỏi. Bà Tư đứng cạnh cái lu nước, vừa xả hộp vừa hỏi, giọng tỉnh bơ như hỏi giá rau.
– Út, năm nay con hai mươi chín rồi phải không?
– Dạ.
– Bà Bảy Xiêm hỏi má con có bồ chưa. Má nói chưa. Bả nói con gái hai mươi chín mà chưa có bồ là kén. Má nói con má không kén, con má lựa.
– Má trả lời vậy là đúng rồi.
– Rồi bả hỏi lựa tới chừng nào. Má nói lựa tới chừng nào má gật.
Út Khuê cúi xuống chà cái hộp nhựa đã sạch bong. Má cô chưa bao giờ hỏi thẳng. Má hỏi vòng qua bà Bảy Xiêm, qua cái lu nước, qua con chó vện, rồi đứng đó chờ coi con mình đỏ mặt chỗ nào.
– Má, – cô nói, – nếu con dẫn về một người mà ba không ưa thì sao?
– Ba mày không ưa ai hết. Ba mày ưa cái lò.
– Còn má?
Bà Tư úp cái hộp cuối cùng lên rổ, chùi tay vô vạt áo.
– Má thì má coi người ta ăn cơm. Ăn cơm mà gắp đồ ăn cho người khác trước là được.
Chiều Chủ nhật đó, bốn giờ, Nhân đi bộ dọc bờ rạch tới, hai tay xách hai bịch trái cây, đúng y như người tới thăm nhà. Út Khuê đứng chờ ở cái cầu ván, nhìn thấy mà muốn té.
– Anh xách cái gì vậy?
– Sầu riêng. Anh mua ở chợ. Đi thăm nhà người ta mà tay không sao được.
– Anh đâu có đi thăm nhà! Anh đi ăn trộm!
– Ăn trộm cũng phải lễ phép.
Hai người ngồi xuống cầu ván, bịch sầu riêng để giữa. Nước rạch đang ròng, lục bình mắc lại trên bãi bùn, mấy con cá thòi lòi nhảy lách tách. Phía trên đầu, cành măng cụt tỏa ra trên mặt nước, trái đã bắt đầu ngả tím.
Út Khuê kể cho Nhân nghe chuyện đám giỗ. Kể chuyện thằng Lực, chuyện xấp giấy bị thả vô lu nước, chuyện chị Ba ly dị. Cô kể chuyện năm trăm triệu mà cô nghe lại từ chị Ba, chị Ba nghe từ thằng Sóc. Nhân nghe hết, không chen.
– Cái công ty thằng Lực làm đó, – anh nói khi cô kể xong, – anh biết. Họ gom đất dọc con đường này hơn một năm rồi. Từ đầu cầu tới đây, mười một lô, họ mua được chín. Còn hai lô. Một lô là cái chùa, chùa không bán. Lô còn lại là nhà em.
– Sao anh biết?
– Anh làm đường mà em. Mỗi lần họ đổi chủ một lô, bên anh phải điều chỉnh hồ sơ đấu nối, chỗ nào làm lối vô, chỗ nào làm cống. Bản vẽ của họ, khu nhà phố của họ, có một cái góc trống. Cái góc đó là cái lò của ba em.
Út Khuê im. Cô nhìn qua vườn, về phía con gò đất. Từ đây không thấy cái lò, chỉ thấy cái ống khói vuông nhô lên trên ngọn cây, đen sì, mấy con sáo đang đậu.
– Vậy là họ sẽ không thôi đâu.
– Không thôi đâu. Họ đã bỏ tiền mua chín lô. Thiếu một góc là không làm được cái cổng chính. Nên em để ý anh Hai em. Người ta biết ai đang cần tiền.
Cô quay qua nhìn anh. Anh nói chuyện đó bình thản, như nói chuyện độ dốc mặt đường, như nói chuyện xi măng. Đó là cái cô thích ở anh, và cũng là cái làm cô sợ. Anh không giận ai. Anh chỉ thấy.
– Nhân.
– Ừ.
– Anh có biết ba em với ba anh…
– Biết.
– Ba anh nói gì về ba em?
Nhân im một lúc lâu. Anh lấy một cọng cỏ, bẻ làm đôi, bẻ làm tư.
– Chuyện hồi đó thì ba anh không nói gì hết. Hai mươi chín năm, chưa kể một câu. Chỉ có một lần, hồi Tết, anh nói với ba là anh quen con gái út ông Tư Khởi. Ba đang tưới cây, ba đứng im, nước chảy tràn ra ngoài gốc. Rồi ba nói đúng một câu, xong đi vô nhà. Còn chuyện hồi đó là chị Bông của anh kể. Chị nói hồi đó ba với ông Tư Khởi làm chung cái lò. Nhận một đơn hàng lớn cho người Đài Loan. Ba thế cái nhà để lấy tiền ứng trước. Rồi nguyên lò hư, ông Tư Khởi nói tại ba mua củi ướt. Ba mất nhà. Nhà anh lên Lộc Ninh làm rẫy điều. Má anh mất năm năm sau đó, lúc anh tám tuổi.
Út Khuê không nói được gì. Cái câu "củi gì như củi ông Sáu" mà cô nghe từ nhỏ, cô đã cười theo không biết bao nhiêu lần, bây giờ nó nằm trong cổ họng cô như một cục xương cá.
– Chị Bông nói thêm một câu nữa, – Nhân nói. – Chị nói ba không mua củi ướt. Chỉ vậy thôi. Chị cũng không biết thêm. Ba anh không bao giờ nói.
– Vậy anh có giận ba em không?
– Anh không biết ba em. Anh chỉ biết em. – Nhân ném mấy khúc cỏ xuống nước. – Còn ba anh, anh sẽ nói chuyện với ba. Từ từ.
Cô định nói gì đó, thì con chó vện sủa.
Không phải sủa ra cổng. Nó sủa ngay sau lưng, trong vườn, cách chừng hai chục thước. Rồi có tiếng cây gậy tre gõ lên rễ cây, tiếng chân dép lẹp xẹp trên lá khô. Út Khuê quay lại. Bốn giờ chiều. Cô quên mất. Bốn giờ chiều nào ba cô cũng đi một vòng vườn, tay cầm cây sào hái trái thay gậy, gõ gõ vô gốc từng cây măng cụt như điểm danh.
Cây sào đó dài bốn thước, bằng tre tầm vông, đầu có cái rọ đan bằng nan tre để hứng trái. Ba cô đi chậm, cây sào chống xuống đất, cái rọ lắc lư phía trên đầu.
– Út hả? – ông Tư gọi. – Út nói chuyện với ai đó?
– Dạ, bạn con, ba.
– Bạn nào? Sao không vô nhà?
Nhân đứng dậy trước khi cô kịp cản. Anh đi lại gần, cúi đầu thật thấp, đúng kiểu con trai miệt vườn đi thăm nhà gái.
– Dạ con chào bác. Con tên Nhân, Võ Hoài Nhân. Con là bạn của Khuê. Con có mua ít trái cây biếu hai bác.
Ông Tư dừng lại. Ông nghiêng đầu như nghe một cái gì ở rất xa.
– Võ. Cậu quê ở đâu?
– Dạ, nhà con gốc ở Lái Thiêu, sau lên Lộc Ninh. Giờ con làm việc ở dưới này.
– Ba cậu tên gì?
Út Khuê muốn chạy tới bịt miệng Nhân. Cô không kịp.
– Dạ, ba con tên Vạn. Võ Văn Vạn.
Cây sào hái trái đứng im trong không khí một nhịp. Rồi nó quét ngang.
Ông Tư không thấy đường, nhưng ông quét theo tiếng. Cái rọ tre đập vô một cành măng cụt, trái rụng lộp độp như mưa đá. Nhân lùi lại một bước, cái rọ quét qua ngay trước ngực anh. Ông Tư bước tới, quét lần nữa, trúng cây măng cụt bên trái, thêm một đợt trái rụng.
– Ba! Ba ơi! – Út Khuê la.
– Cút! Cút ra khỏi vườn tao!
– Dạ con đi, con đi bác…
Nhân lùi thêm một bước, rồi thêm một bước nữa, gót giày đạp lên mép cầu ván. Tấm ván mục kêu rắc một cái. Anh chới với, hai tay quơ trên không, bịch sầu riêng văng ra, rồi cả người anh rơi tõm xuống rạch, giữa đám lục bình.
Con chó vện chạy tới mép cầu, sủa vang.
Bà Tư từ trong nhà chạy ra, tay cầm cái vá múc canh. Chị Ba Lài chạy theo, tay còn cầm hộp gỏi. Thằng Sóc ở đâu cũng chạy tới, điện thoại giơ lên. Út Khuê quay lại chỉ vô mặt thằng cháu.
– Sóc! Cất ngay!
Thằng Sóc cất. Nhưng nó vẫn đứng đó, miệng há ra.
Dưới rạch, Nhân đứng dậy. Nước ròng chỉ tới thắt lưng, nhưng bùn tới đầu gối. Anh đứng giữa lục bình, tóc dính một cọng lá, áo sơ mi trắng đã thành áo màu phù sa. Một múi sầu riêng trôi lềnh bềnh cạnh tay anh.
Ông Tư đứng trên bờ, cây sào chống xuống đất, thở hổn hển. Bà Tư đi tới cạnh ông, nhìn xuống rạch, nhìn cái mặt của người thanh niên, rồi nhìn con gái út. Bà không hỏi. Bà đã hiểu.
– Cậu nghe cho rõ, – ông Tư nói, giọng không lớn, nhưng cả vườn im phăng phắc. – Nhà này còn một người, thì người nhà Sáu Vạn không được bước vô cổng.
Nhân đứng dưới rạch, nước chảy ròng quanh người. Anh lau cái mặt dính bùn bằng cánh tay cũng dính bùn. Anh nhìn lên ông già trên bờ, rồi nhìn Út Khuê. Rồi anh nói, lễ phép, gần như dịu dàng.
– Dạ. Ba con cũng nói y vậy, bác.
— Hết chương 4 —

🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe